Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

KINH NÓNG!!!

Cư sĩ Bắc hỏi cư sĩ Nam:
_ Thưa hiền huynh, từ khi tôi tụng kinh Địa Tạng cứ luôn gặp chuyện xui xẻo, gia đạo lại thường bất an. Nhiều người nói họ tụng kinh Kim Cang cũng bị “nóng” như vậy. Vì sao thế?
_ Vì đó là kinh giả do các Bà-la-môn gián điệp viết ra, tung vào Phật giáo để phá hoại Phật pháp, chia rẽ Tăng đoàn. Ông thọ trì những kinh như vậy có gặp quả báo tai ương hiện tiền là chuyện đương nhiên, còn phân vân gì nữa. Ông không mau tránh xa mớ tà kiến ấy, cứ ôm ấp chúng, còn bị rớt xuống địa ngục nóng gấp ngàn vạn lần hơn nữa.
_ Nhưng dưới địa ngục đã có Địa Tạng Vương Bồ-tát cứu độ?
_ Người có trí tuệ nên tin vào luật nhân quả hay tin lời kẻ khác?
_ Đương nhiên phải tin vào luật nhân quả trước. Nhưng trong Năm Căn, Năm Lực của tiểu thừa, Phật dạy phải có Tín Căn, Tín Lực đi đầu kia mà?
_ Đó là tin vào Phật, vào Pháp, vào Tăng và vào Giới để có Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn, Tuệ Căn nhằm tự tu tập và giải thoát khỏi khổ đau chứ không phải tin càn kẻ khác. Đừng nghĩ đơn giản rằng dù làm ác tạo tội bị xuống địa ngục vẫn được cứu rỗi dễ dàng để rồi cứ tiếp tục làm càn. Hai sự tin tưởng này trái ngược nhau hoàn toàn. Ông phải phân định cho rõ để khỏi rơi vào bẫy của phù thuỷ.
_ Ừ nhỉ, thảo nào Tín Căn, Tín Lực phải có Tuệ Căn, Tuệ Lực đi kèm. Đức tin mà không có trí tuệ là mê tín, tà tín, cuồng tín đúng không?
_ Ông bắt đầu có chánh tín rồi đấy!
_ Giờ đây tôi phải làm gì?
_ Hãy biết đặt các kinh “nóng” ấy vào đúng chỗ của nó!
_ Bếp lò ư?
_ Còn phải hỏi!
Nam Cư Sĩ

TAM TẠNG HAY NHỊ TẠNG???


_ Làm thế nào biết được luận nào đúng, luận nào sai?
_ Đức Thế Tôn đã tuyên bố, trước sau Ngài chỉ thuyết khổ và diệt khổ, vì vậy luận nào giúp diệt khổ thiết thực hiện tại là luận thật, luận nào vòng vo phù phiếm là hý luận.
_ Luận vi diệu pháp do các luận sư gốc Bà-la-môn kết tập thì sao?
_ Hãy đọc và tự hỏi chúng giúp diệt khổ như thế nào sẽ biết. Đương thời Phật, du sĩ ngoại đạo Ajita khoe người bạn của ông ta biết đến năm trăm tâm xứ (*). Đức Thế Tôn chẳng thèm quan tâm, Ngài chỉ quay sang hỏi các Tỳ-kheo có biết “căn bản địa của một bậc hiền trí đại tuệ là gì không”. Cậu hãy đi hỏi các luận sư giỏi “Vi diệu pháp” nhất xem căn bản địa của bậc hiền trí đại tuệ là gì? Và vì sao Phật không thèm trả lời Ajita lấy một từ?
_ Chẳng cần hỏi họ cũng biết.
_ Biết gì?
_ Biết rằng cứ ngồi chia chẻ sợi tóc làm tư, làm tám, làm năm trăm tâm xứ nhưng chẳng biết diệt tham-sân-si, ly khổ đau như thế nào, rõ ràng đó là hành động của những kẻ điên.
_ Cậu đã luận đúng rồi đấy!
  Đại Luận Sư
__________________
(*) Kinh Tăng Chi, Chương 10, Phẩm XII, bài kinh “Ajita”, số 116.

TAM BẢO VÀ NHỊ TẠNG


_ Tam Bảo là gì?
_ Phật, Pháp, Tăng.
_ Còn Kinh, Luật, Luận?
_ Là Tam tạng. Nhưng…
_ Gì nữa?
_ Tạng cuối cùng là đại... thừa.
_ Nghĩa là dư thừa nhiều?
_ Đúng vậy!
_ Vì sao?
_ Còn ai luận hay, rõ ràng và đầy đủ hơn Đức Phật? Đối với Kinh và Luật của Đức Thế Tôn, thêm vào một từ là thừa, lấy đi một chữ là thiếu!
_ Cho nên chỉ có Tam Bảo và Nhị Tạng mà thôi?
_ Lành thay cho ai biết điều này!
NHỊ TẠNG VƯƠNG___________________________
Ghi chú:
1) “-- Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””.
Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Và này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
-- Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””.
Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.” (Xem thêm các Đại căn cứ địa thứ nhất, thứ hai, thứ ba trong Tăng Chi tập 2, Chương 4, tr.135-140)
2) “Nếu có ai, khi tả một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, vị ấy nếu tuyên bố đúng đắn sẽ tuyên bố như sau: "Phạm hạnh này thành tựu hết thảy tướng, cụ túc hết thảy tướng, không thiếu thốn, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày”.
Này Cunda, Uddaka con của Ràma thường nói: "Thấy mà không thấy". Thấy cái gì mà không thấy? Với một con dao sắc bén, chỉ thấy lưỡi dao không thấy khía cạnh sắc bén của dao. Này Cunda, đấy là nghĩa của câu: "Thấy mà không thấy".
Này Cunda, ở đây Uddaka con của Ràma đề cập đến một vật đê tiện, hạ liệt, thuộc về phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích, nói về con dao. Này Cunda, nếu nói đúng đắn câu "Thấy mà không thấy", thời phải nói như sau: "Thấy mà không thấy. Vị ấy thấy cái gì mà không thấy?” 
Một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, đầy đủ hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày. Chính vị ấy thấy phạm hạnh này.
Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là "Thấy mà không thấy”... (Trường Bộ 2, Kinh Thanh Tịnh, số 29)
Cũng giống như Uddaka con của Ràma, những luận sư sau này chính là những kẻ “tưởng thấy mà không thấy” nên mới bày đặt thêm vào một tạng Luận bên cạnh hai thánh tạng Kinh và Luật của Đức Thế Tôn. Họ làm vậy và tưởng rằng được rõ ràng hơn, giá trị hơn, nhưng kỳ thật họ bị Đức Phật gọi là những kẻ “tưởng thấy mà không thấy”.
Lại có những người giới hạnh không thanh tịnh nên tâm không thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh nên tri kiến không thanh tịnh. Tri kiến không thanh tịnh nên không thể hiểu trực tiếp Kinh và Luật của Đức Thế Tôn. 
Cho nên họ phải tin theo các luận sư và dựa vào các chú giải, luận giải đến độ xem thường hoặc bỏ lờ tạng Kinh điển của Phật vì tin rằng nó chỉ là tục đế, là thường pháp, không phải chân nghĩa đế; luận Vi diệu pháp mới chính là pháp vi diệu. 
Những kẻ này làm vậy và tưởng rằng được rõ ràng hơn, hiểu Phật pháp hơn, nhưng kỳ thật họ cũng bị Đức Phật gọi là những kẻ “tưởng thấy mà không thấy”.
NHỊ TẠNG VƯƠNG


THÁNH TĂNG DẠY TRONG CHÁNH KINH. MA TĂNG DẠY TRONG TÀ KINH


Cùng là hai bài kinh tương đương trong Pali và A Hàm nhưng có sự cải biên hoàn toàn khác nhau. Phân tích so sánh sau đây sẽ nêu cụ thể

PHÂN TÍCH SO SÁNH
Chánh Kinh "Giáo Giới Cấp Cô Độc" <số143, Trung Bộ Pali> & Tà kinh "Giáo Hóa Bịnh" <số 28, Trung A Hàm>
Chánh kinh Pāli: “Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh…
… Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.”
Tà kinh A Hàm: Tôi nghe như vầy: Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc. Bấy giờ Trưởng giả Cấp Cô Độc mang bệnh hiểm nghèo…
Sau khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lê Tử khoác y, ôm bát đi đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc thấy Tôn giả Xá-lê Tử từ đàng xa đi đến, muốn từ giường ngồi dậy. Tôn giả Xá-lê Tử thấy Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn từ giường ngồi dậy, liền cản lại rằng: “Này Trưởng giả, chớ ngồi dậy. Còn giường khác đây, tôi sẽ ngồi riêng”.
Tôn giả Xá-lê Tử liền ngồi lên giường ấy, rồi hỏi rằng: “Bệnh trạng của Trưởng giả hôm nay thế nào? Ăn uống được nhiều ít? Sự đau đớn giảm dần không đến nỗi tăng thêm chăng?”
Trưởng giả Cấp Cô Độc trả lời rằng: “Bệnh tình của con rất nguy kịch, ăn uống chẳng được gì cả. Sự đau đớn chỉ tăng thêm chứ không thấy giảm bớt chút nào”.
Tôn giả Xá-lê Tử bảo rằng: “Này Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si, thành tựu bất tín, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả ngày nay không hề có sự bất tín, mà chỉ có sự thượng tín. Do thượng tín ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thượng tín ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.”
Phân tích: Cả hai bài kinh trên là những lời dạy của ngài Xá-lợi-phất dành cho ông Cấp Cô Độc lúc bị trọng bệnh, nhưng có nhiều sự sai khác.
- Sự sai khác vô lý trước nhất trong A Hàm được lập đi lập lại nhiều lần “Phật du hóa tại ... vườn Cấp cô độc như muốn thách thức trí tuệ thẩm sát của những ai thọ trì kinh A Hàm. Thảm thương thay nó vẫn an nhiên tồn tại qua biết bao thế kỷ không một lời cảnh báo, không một ai cải chính.
- Cũng theo A Hàm, ông Cấp Cô Độc thấy tôn giả Xá-lê Tử “từ đàng xa đi đến” muốn ngồi dậy, có nghĩa là Xá-lê Tử vẫn còn ở… cách xa Cấp Cô Độc, ấy vậy mà liền ngay đó câu kế tiếp Xá-lê Tử thấy và cản liền (?) Có hai khả năng: Một là tôn giả Xá-lê Tử dùng thần thông rút đất, hiện liền ngay trước mặt Cấp Cô Độc; hai là mấy ông dịch giả cố tình khiến A Hàm trở thành kinh … ba láp ba sàm. Nghĩ như thế nào tùy người đọc.
- Lần trước Xá-lê Tử A Hàm thăm bệnh ông bạn thân Phạm chí Đà Nhiên (kinh số 27) né sang ngồi giường khác, lần này thăm ông Cấp Cô Độc mang bệnh hiểm nghèo cũng phải ngồi riêng. Chắc Xá-lê Tử sợ lây bệnh, ghê tởm mấy người bệnh chăng? Kiểu cách này của ông Xá-lê Tử A Hàm không xứng danh Tướng Quân Chánh Pháp của đạo từ bi rồi. Nhưng trong Pāli Ngài đâu có tầm thường như thế.
- Xá-lê Tử A Hàm nói dóc quá, trong khi ông Cấp Cô Độc còn đang rên rỉ: “Bệnh tình của con rất nguy kịch, ăn uống chẳng được gì cả. Sự đau đớn chỉ tăng thêm chứ không thấy giảm bớt chút nào”, thì ngài lại phán: “Do thượng tín ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng” (?)
Thế ra trước đó do ông Cấp Cô Độc không tin Phật nên mới khốn khổ như vậy chăng? Mấy người không tin Phật, đọc tới đây chắc phải phì cười hỏi liền: “Ai nhờ thượng tín mà diệt được đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng hãy lên tiếng và… chịu nhận 100 hèo của chúng tôi để chứng minh”
Còn những người có trí và hiểu Phật pháp cũng cười phì tự nhủ: “Chẳng lẽ chỉ nhờ lòng tin thôi là đạt được thánh quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàmsao? Quả thánh kiểu gì lại dễ dàng như vậy? Ngài Xá-lê Tử chắc cũng là gián điệp ngoại học rồi!”
***
Chánh kinh Pāli: “Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.”
Tà kinh A Hàm: “Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si do ác giới, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có ác giới, mà Trưởng giả chỉ có thiện giới. Do thiện giới ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thiện giới ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.”
Phân tích: - Trong chánh kinh Pāli, ngài Xá-lợi-phất chỉ dạy cư sĩ Cấp Cô Độc không nên chấp thủ các pháp không nên chấp thủ, vì trong khi bệnh hoạn những chấp thủ này sẽ khiến mình đau khổ nhiều hơn, bệnh tình nặng hơn; ngược lại xả bỏ càng nhiều những chấp thủ có hại càng giúp giải thoát khổ đau, càng giúp thân tâm nhẹ nhàng, thậm chí thân có thể đau nhưng tâm không đau, thân có thể bệnh nhưng tâm không bệnh.
Ngược lại trong A Hàm lời tôn giả Xá-lê Tử rất phi lý. Những ai đã giữ thiện giới và từng bị bệnh hẳn không thể một chiều chấp nhận lời của ông Á-lê Tử A Hàm. Tất nhiên ông Cấp Cô Độc nghe xong cũng muốn bịnh thêm, cho nên bài kinh có tựa đề “Giáo hóa (nên) bịnh” là vì vậy. Các dịch gia A Hàm và những người thọ trì mắc tâm bịnh cả rồi nên mới không thấy rõ!
***
Chánh kinh Pāli: “(Không có đoạn tương đương. Chính trong bản A Hàm tiếng Việt, chú thích số 5 có ghi rõ: “Nội dung bài thuyết pháp sau đây không đồng nhất với bản Pāli tương đương”)    
Tà kinh A Hàm: “Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si không có đa văn, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có sự không đa văn. Do đa văn ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùnghoặc do đa văn ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
… Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có sự xan tham, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có xan tham mà chỉ có huệ thí. Do huệ thí ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do huệ thí ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.”
Phân tích: - Những ai đã từng nhờ đa văn và huệ thí mà diệt được “đau nhức khổ sở” xin lên tiếng và xin chấp nhận 100 roi để chứng minh cụ thể có đa văn huệ thí đã giúp “khoái lạc vô cùng” như thế nào?
Một người không đa văn, không huệ thí nhưng biết thân hành thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện khi chết cũng đi thẳng đến ác xứ địa ngục ưSàm! Ngược lại một kẻ đa văn và huệ thí nhưng thân làm ác, miệng nói láo, ý nghĩ tà kiến chết chứng thánh quả ư? Phi lý!
- Một kẻ đa văn, có huệ thí nhưng phá giới và tà hạnh cũng chứng quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàm ư? Ông Xá-lê Tử A Hàm dạy gì kỳ vậy?
Chỉ cần vài câu hỏi trên cũng đủ thấy rõ A Hàm đã bị các ông dịch giả Bà-la-môn xuyên tạc phá hoại đến tận cùng.
***
Chánh kinh Pāli: “Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Ðộc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ānanda nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc: -- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?
-- Thưa Tôn giả Ānanda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Ðạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu con đã từng gần gũi các vị Tỷ-kheo tu tập ý lực, con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.”
Tà kinh A Hàm: “Bấy giờ bệnh trạng của Trưởng giả Cấp Cô Độc liền được thuyên giảm, bình phục như cũ [7] từ chỗ nằm ngồi dậy, khen Tôn giả Xá-lê Tử rằng:…”
Phân tích: Theo Chánh kinh Tương Ưng Pāli, bài kinh Ác Giới, hay Anāthapiṇḍika (1) (S.v,380) ông cư sĩ Cấp Đô Độc cũng được khỏi bệnh, thế nhưng trường hợp này hoàn toàn khác với sự cải biên vô lý của A Hàm.
Trong chú thích số 7 của bản A Hàm tiếng Việt có ghi rõ: “Bản Pāli, sau đó, khi Sāriputta đi khỏi, Trưởng giả Cấp Cô Độc mạng chung”. Còn trong A Hàm, ông Cấp Cô Độc chỉ cần nghe mấy lời vọng ngữ thái quá của Xá-lê Tử là khỏe liền, điều này càng khiến người đọc cảnh giác, càng cảnh giác càng thấy rõ “kinh A Hàm” là kinh... ba sàm ba sạo!
Ai tin A Hàm hãy đọc những lời của tôn giả Xá-lê Tử A Hàm dạy cho những người bệnh để xem họ có thuyên giảm và bình phục như cũ được không? Nếu không, hãy cẩn trọng suy ngẫm kỹ lời Phật dạy trong nguyên thủy Pāli, và phải luôn nhớ rằng chớ có tin cho dù đó là kinh điển hay truyền thống từ các Bà-la-môn gián điệp truyền trao.
BUDDHISM MAGAZINE

KHÔNG PHẢI 'THÀY' NÀO CŨNG NÓI ĐÚNG PHÁP!!!

Bác Hai Lúa than thở với chú Tư Ưu Bà Tắc:
_ Tui làm nông nghiệp phải cày bừa, phun thuốc trừ sâu, diệt côn trùng giữ lúa. Thế nhưng thầy trụ trì nói sát sanh là có tội và khuyên mình chuyển nghề. Tui từ lúc cha sanh mẹ đẻ đến giờ chỉ biết có ruộng đồng, chẳng biết gì khác. Mình lo quá, không biết tính sao?
Chú Tư lớn tiếng:
_ Nếu tất cả mọi nông dân đều bỏ nghề, con người lấy gì ăn để sống? Vị trụ trì của bác còn sống lấy gì ăn?
_ Thầy trụ trì nói rằng để mấy người muốn lãnh nghiệp sát sanh họ làm tiếp.
_ Trời đất, phán như vậy đâu có được. Người ta cực nhọc nuôi bản thân, gia đình và mọi người thì bị lãnh nghiệp, còn mình phơi phơi lại được hưởng phước, liệu có bất công không?
_ Vậy theo chú tính sao?
_ Thầy bổn sư của tui dạy rằng tuy sát sanh côn trùng cũng có tội, nhưng người nông dân có công tạo ra lương thực nuôi sống con người, vì vậy cũng phải tính cả phước cho họ mới công bằng hợp lý. Con người có phước nhiều hơn côn trùng, cho nên góp phần nuôi sống con người thì phước cũng lớn lắm. Tất nhiên dùng các phương pháp không sát sanh nhưng vẫn bảo vệ cho cây trồng là tốt nhất. Thế nhưng trong trường hợp bất khả kháng và mình thực tâm không ham thích sát sanh nhưng bắt buộc phải giết côn trùng có hại để bảo vệ mùa màng thì xem như nghiệp ác nhỏ, có thể chuyển hóa được.
_ Ừa hén, nói vậy mới phải. Nhưng chuyển hóa nghiệp bằng cách nào?
_ Sư thầy của tui cứ y kinh dạy rằng: một nghiệp ác nhỏ ví như một nắm muối, nếu cho vào chén nước nhỏ, vị mặn không thay đổi, nhưng nếu cho vào hồ nước rộng lớn sẽ bị hòa tan. Chén nước nhỏ là tâm nhỏ hẹp, ích kỷ. Còn hồ nước rộng lớn chính là tâm biết tu tập biến mãn từ bi hỷ xả, bố thí, trì giới.
_ À, tôi hiểu rồi. Giả sử sau mùa vụ tôi để dành được một trăm dạ lúa, tôi trích ra một phần làm từ thiện bố thí cho mấy người già neo đơn, cho mấy em bé mồ côi hoặc cúng dường cho người tu hành chân chánh. Như vậy là tôi đã tạo thêm phước thiện để giải trừ nghiệp bất thiện.
_ Đúng vậy! Ngược lại nếu bác ích kỷ dùng gạo đó nấu rượu, rồi say xỉn tối ngày thì nghiệp ác cộng với hành bất thiện vẫn không chuyển hóa được, trái lại đau khổ còn tăng nhiều hơn nữa.
_ Nói như chú mới hợp tình, hợp lý, hợp nhân quả. Giờ thì tôi yên tâm rồi. Cảm ơn chú.
CHÂN CHÁNH NGHIỆP

THÁNH TỬ ĐẠO HAY ĐẠO TỬ THÁNH?

Trong giờ học về tôn giáo, tất cả các em học sinh đều hào hứng tham gia thảo luận về đề tài “Thánh tử đạo”. Các ý kiến phát biểu được ghi nhận tóm lược như sau:
_ Theo mình, chết vì đạo chưa chắc đã có trí tuệ. Bằng chứng là đã có nhiều kẻ cuồng tín dám ôm bom tự sát cho tín ngưỡng của mình.
_ Không phải chỉ có giết người khác là mang tội sát sanh, tự giết mình cũng vậy.
_ Không biết thương mình nên mới tự giết mình. Không biết thương người nên mới giết người ta.
_ Nêu gương xấu cho người khác, tạo phong trào tự sát tập thể cũng mang tội tuyên truyền cho vô minh tà kiến nữa đấy.
_ Nhưng nếu không dám liều mình quyết tử, thì làm sao bảo vệ được đạo pháp? Có khi cũng phải biết “sát nhất miêu, cứu vạn thử” chứ?
_ Sao không biết “cứu nhất miêu, cứu vạn thử”? Tại sao cứ phải nghĩ rằng chỉ có chết mới bảo vệ cho đạo lý? Còn sống mà vẫn phát triển được đạo pháp, vừa lợi ích cho mình lại vừa hữu ích cho đạo, như thế có hay hơn không, có trí tuệ hơn không?
_ Nói vậy là còn tham sống sợ chết.
_ Thì đã sao? Tham sống cho đạo hẳn là hiền trí hơn phải bị bức tử vì nó. Đạo cao siêu thực sự là phải dạy người ta “biết sống khôn” chứ không phải “dám chết dại”.
_ Cứ ham chết kiểu đó dễ trở thành tay sai cho kẻ khác lắm. Và chỉ có những tâm hồn còn ngây thơ không biết thắng-liệt, thánh-phàm mới vinh danh ca ngợi nó mà thôi.
_ Nhưng không chết một cách đặc biệt, làm sao gây chú ý cho dư luận, làm sao tạo được tiếng vang, làm sao gây ra áp lực để thực hiện mục đích của mình?
_ Một giáo lý hoặc một tập thể cổ vũ cho những người tin theo phải liều chết để bảo vệ hoặc xương minh cho nó nhằm đạt mục đích của riêng mình, liệu có phải là chánh lý không? Có phải là một hội chúng chánh đạo không?
_ Vẫn còn nhiều phương cách hay hơn, vẹn toàn hơn sao không áp dụng? Sao người ta chỉ biết một là phải “chết”, hai là phải “tử”?
_ Vậy mà những biểu tượng ấy vẫn luôn được tuyên dương ca ngợi. Chẳng trách gì người ta cứ đua nhau chết vì đạo, tự tử vì tình hà rầm là vậy. Tớ chẳng dại!
_ Tôi cũng vậy. Mình phải hơn loài thiêu thân chứ! Can đảm mà không có trí tuệ là tà tinh tấn. Đức tin mà không có lý trí là tà tín, mê tín, cuồng tín.
_ Đức Phật đã dạy rồi, ở đời có bốn hạng người: (1) hại mình - hại người, (2) hại mình - lợi người, (3) lợi mình - hại người, (4) không hại mình, không hại người - lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới. Và Ngài cũng chỉ rõ hạng người nào là hiền trí nhất, đạo đức nhất.
_ Đương nhiên là hạng người thứ tư. Sẵn sàng hại mình để làm lợi cho người khác, mấy con cá cắn câu cũng làm được.
_ Này, mình nghe nói có Thánh tử đạo để lại cả thánh vật không bị hủy diệt cho mọi người tin. Còn có cả hình chụp nữa đấy!
_ Xin hỏi bạn: những ai chứng kiến sự việc ấy? Họ có đáng tin cậy không? Nó có được hội đồng giám định khách quan và có uy tín chứng thực, chứng nghiệm không?
_ Vạn vật đều vô thường, có sanh phải có diệt. Chỉ có chuyện lợi dụng tôn giáo, muốn bày trò bịp bợm mới khoe điều ngược lại.
_ Nhưng “Thánh tử” thì phải có “thánh sử”, “thánh vật” khác thường chứ?
_ Dù thánh tổ đến đâu cũng không vượt ngoài thánh lý, chánh lý; trừ phi là... dóc tổ. Chẳng lẽ tôi nói khơi khơi rằng: tối hôm qua tôi và họ hàng nhà tôi đã nướng miếng thịt “Trư bát giới” suốt hai mươi tám tiếng trên lò lửa mà nó vẫn không chín. Rồi để làm bằng chứng tôi bèn đưa tấm hình miếng thịt khác, cứ thế các ông các bà cũng tin ngay à? Cũng sùng bái miếng thịt ấy à?
_ Đúng vậy! Đã có biết bao tin đồn nào là: tượng thần này chảy nước mắt, áo thánh kia thấm linh dược, máu loang khắp bàn thờ v.v... và v.v... Rút cuộc toàn chuyện bịa đặt. Có người nói rất chí lý “tôn giáo là thiên đường của những ông tổ bịp”.
_ Tóm lại, “Thánh tử đạo” thua xa “Thánh sống đạo”. Đạo của các “Thánh tử” không bằng đạo của các “Thánh bất tử”. Bất tử bằng chính cuộc sống thánh thiện hiền trí đại tuệ không hại mình, hại người; lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới.
Cả lớp nhất loạt vỗ tay hoan hô tán đồng lời kết luận.
SINH VIÊN @@@

49 ĐẠI NGUYỆN CỦA CHÚ CUỘI - GIÁO CHỦ CÕI CÂY ĐA XÀ (SAU NÀY CƯU MA LA THẬP CỦA ĐẠI THỪA BẮT CHƯỚC RỒI VẼ RA 48 ĐẠI NGUYỆN CỦA A DI ĐÀ)

Nguyện thứ 1: Lúc tôi thành Cuội, nếu trong cõi Cung Trăng, có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 2: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, sau khi thọ chung, còn trở lại sa vào ba ác đạo, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 3: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, thân chẳng màu vàng tất cả, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 4: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, thân hình có kẻ tốt người xấu chẳng đồng nhau, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 5: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng chẳng có Túc mạng thông, ít nhất là biết rõ những việc trăm nghìn ức na do tha kiếp (vô số kiếp) thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 6: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng đặng Thiên nhãn thông, ít nhất là thấy rõ trăm nghìn ức na do tha thế giới của chư Cuội, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 7: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng được Thiên nhĩ thông, ít nhất là nghe và thọ trì tất cả lời thuyết pháp của trăm nghìn ức na do tha đức Cuội, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 8: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng chẳng được Tha tâm thông, ít nhất là biết rõ những tâm niệm của tất cả chúng sanh, trong trăm nghìn ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 9: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng đặng thần túc thông, khoảng một niệm, ít nhất là đi qua khỏi trăm nghìn ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 10: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, còn có quan niệm tham chấp lấy thân, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 11: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng trụ định tu, nhẫn đến trọn diệt độ, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 12: Lúc tôi thành Cuội, nếu quang minh còn hữu hạn, ít nhất cũng chiếu thấu trăm nghìn na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 13: Lúc tôi thành Cuội, nếu thọ mạng còn hữu hạn, ít nhất cũng đến trăm nghìn na do tha kiếp, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 14: Lúc tôi thành Cuội, chúng Thanh Văn trong cõi Cung Trăng, nếu có ai tính đếm biết được số bao nhiêu, dầu đó là vô lượng Bích Chi Cuội đồng tính đếm trong trăm nghìn kiếp, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 15: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, thọ mạng còn hữu hạn, trừ người có bổn nguyện riêng, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 16: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, còn có người nghe danh từ bất thiện thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 17: Lúc tôi thành Cuội, nếu vô lượng chư Cuội thập phương thế giới, chẳng đều ngợi khen xưng danh hiệu tôi, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Cuội, thập phương chúng sanh, chí tâm tín mộ, muốn sanh về cõi Cung Trăng, nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ; trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chánh pháp.
Nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Cuội, thập phương chúng sanh phát Bồ đề tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi Cung Trăng, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 20: Lúc tôi thành Cuội, thập phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi Cung Trăng, và tu các công đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về cõi Cung Trăng, nếu chẳng được toại nguyện, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 21: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, tất cả chẳng đủ ba mươi hai tướng đại nhơn, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 22: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở cõi khác sanh về Cung Trăng, cứu cánh đều quyết đến bực Nhứt sanh bổ xứ, trừ người có bổn nguyện riêng, tụ tại hóa hiện, vì chúng sanh mà thoát hoằng thệ nguyện, tu các công đức, độ thoát mọi loài, đi khắp thế giới, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường thập phương chư Cuội, khai hóa vô lượng chúng sinh, làm cho tất cả đều đứng vững nơi đạo vô thượng Dóc Tổ, siêu xuất công hạnh của các bực thông thường, hiện tiền tu tập Đại nguyện của Phổ Hiền, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 23: Lúc tôi thành Cuội, các Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, thừa thần lực của Cuội, mà đi cúng dường thập phương chư Cuội, trong khoảng thời gian một bữa ăn, nếu không đến khắp vô lượng vô số ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 24: Lúc tôi thành Cuội, các Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, khi ở trước thập phương chư Cuội, hiện công đức của mình, muốn có những vật cúng dường, nếu không có được, tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 25: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, không được Nhứt thiết trí, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 26: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, chẳng đều được thân kim cương Na La Diên, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 27: Lúc tôi thành Cuội, thì trong cõi Cung Trăng, tất cả đồ dùng của nhơn thiên, hình sắc đều sáng đẹp sạch sẽ, rất tột vi diệu, dầu là người được thiên nhãn cũng không có thể tính biết. Nếu có người biết danh số các đồ vật ấy được rõ ràng, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 28: Lúc tôi thành Cuội, nếu Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, dầu là người ít công đức nhứt, chẳng thấy biết được cội cây đạo tràng cao bốn trăm muôn do tuần, vô lượng quang sắc, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 29: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, nếu thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 30: Lúc tôi thành Cuội, nếu có ai hạn lượng được trí tuệ biện tài của Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 31: Lúc tôi thành Cuội, cõi Cung Trăng thanh tịnh, các nơi đều soi thấy tất cả vô lượng vô số không thể nghĩ bàn thế giới ở mười phương, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng được như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 32: Lúc tôi thành Cuội, trong cõi Cung Trăng từ mặt đất tràn lên đến hư không, lầu nhà cung điện ao nước hoa cây, tất cả vạn vật đều là vô lượng chất báu và trăm nghìn thứ hương, hiệp chung lại mà thành; vạn vật đều xinh đẹp kỳ diệu, mùi thơm xông khắp thập phương thế giới. Bồ Tát các nơi ngửi đến mùi thơm ấy, thời đều tu hạnh của Cuội. Nếu chẳng như thế, tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 33: Lúc tôi thành Cuội, các loài chúng sanh trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, được quang minh của tôi chiếu đến nhẹ nhàng hơn thiên nhơn, nếu chẳng như vậy, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 34: Lúc tôi thành Cuội, các loài chúng sanh tong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu của tôi mà không được vô sanh pháp nhẫn, cùng các môn thâm tổng trì, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 35: Lúc tôi thành Cuội, các người nữ trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, vui mừng tin mến phát Bồ đề tâm, nhàn ghét thân gái. Nếu sau khi mạng chung mà còn làm thân người nữ nữa, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 36: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, vẫn thường tu phạm hạnh, mãi đến thành Cuội. Nếu chẳng được như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 37: Lúc tôi thành Cuội, hàng nhơn thiên trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tin mến tu Bồ Tát hạnh, thời chư Thiên và người đời đều kính trọng người đó. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 38: Lúc tôi thành Cuội, hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng muốn có y phục, thời y phục tốt đúng pháp liền theo tâm niệm của người đó mà đến trên thân. Nếu còn phải cắt may nhuộm giặt, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 39: Lúc tôi thành Cuội, hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng không được sự hưởng thụ vui sướng bằng vị Tỉ Khưu đã dứt hết mọi phiền não, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 40: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới nghiêm tịnh của chư Cuội ở mười phương, thời liền được thấy rõ cả nơi trong cây báu, đúng theo ý muốn, như thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 41: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó nhẫn đến lúc thành, mà các căn còn thiếu xấu, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 42: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát, ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, thảy đều được giải thoát tam muội. Trụ tam muội đó, trong khoảng thời gian một niệm, cúng dường vô lượng bất tư nghị chư Cuội Thế Tôn, mà vẫn không mất chánh niệm. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 43: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung đều được thác sanh chốn Tôn quí, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 44: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hơn hở, tu Bồ Tát hạnh, trọn đủ công đức, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 45: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, đều đặng Phổ đẳng tam muội, trụ tam muội này mãi đến lúc thành Cuội, thường được thấy Vô lượng bất tư nghị tất cả chư Cuội. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 46: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở trong cõi Cung Trăng, muốn nghe pháp gì, thời liền tự nhiên đặng nghe pháp ấy. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 47: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu tôi mà chẳng được đến bực bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 48: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, mà chẳng liền được Đệ nhất âm hưởng nhẫn, ở nơi Cuội pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 49Ai chứng minh được những lời nguyện của Cuội tôi là láo khoét, ba sạo, hứa lèo, hứa cuội; Cuội tôi sẽ gả chị Hằng Nga cho và còn ban 10 Tiên Nữ cõi Cung Quảng Hàm hầu hạ. Cũng như vua Diêu Tần đã ban 10 cung nữ cho ngài Cưu Ma La Thập, một đại sư Đại Thừa vừa là soạn giả, dịch giả và luận giả của cuốn kinh A-di-đà. Còn những ai tin Cuội tôi cứ thực hành theo tất cũng sẽ được như các Tịnh Độ tử của phái A-mi-tò-phò. Bụt A-di-đà đã phát đại nguyện cứu độ chúng sanh, chẳng lẽ Cuội tôi không dám noi gương ngài.
A-di-đà Bụt!
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH LA TO NHƯ CUỘI
----------------------
Ghi chú: Chuyện Cưu Ma La Thập dám nhận và loạn dâm với cả 10 cung nữ từ vua Diêu Tần ban cho dựa theo “Cao Tăng Dị Truyện” và"Tranh Biện”  của Xích Liên xuất bản, 1929 - 1932, quyển Thượng, trang 151–169. Nguồn Internet.
Cưu Ma La Thập (344-413), người Ấn Độ, sống sau Phật 1000 năm, cũng là tác giả của cuốn luận A-di-đà ca ngợi hết lời cho kinh A-di-đà do chính mình giới thiệu và chuyển dịch (?!) Việc vẽ ra một cuốn kinh giả rồi viết thêm một cuốn luận thật nhằm khiến những kẻ ngây thơ tin ngay cuốn kinh giả đó, chuyện này một tên gián điệp hạng bét cũng thừa biết và thừa sức thực hiện, chỉ có những kẻ khờ dại mới không hiểu mà thôi.

ĐIỂM SÁCH "The Literature of the Personalists of Early Buddhism"

Ôn cố tri tân
Kinh Sư
***
Phần phụ lục mục Vô Ngã - Nghiệp - Luân Hồi,
trong trang nhà Người Cư Sĩ
ĐIỂM SÁCH
The Literature of the Personalists of Early Buddhism  
(Văn học của các nhà Nhân thể luận trong Phật giáo Nguyên thủy).

Tác giả Thích Thiện Châu
Trần Tuấn Mẫn đọc
“Tháng 3.1997, viện Nghiên cứu Phật học Việt nam vừa ấn hành tác phẩm Anh ngữ, The Literature of the Personalists of Early Buddhism (Văn học của các nhà Nhân thể luận trong Phật giáo Nguyên thủy). Ðây là bản dịch của Sara Boin-Webb từ nguyên bản Pháp ngữ "La littérature des personnalistes du Bouddhisme Ancien" luận án Tiến sĩ Quốc gia về Văn học và Khoa học Nhân văn do hòa thượng Thích Thiện Châu thực hiện và đệ trình tại đại học Sorbonne Nouvelle (Paris III) năm 1977. (1)
Luận án minh họa, phân tích, nhận định và hệ thống hóa học thuyết Nhân thể luận (Pudgalavàda), một học thuyết xuất hiện khoảng 200 năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn và được phổ biến phát triển suốt hơn 10 thế kỷ. 
Qua đó, khởi từ trường phái Vàtsìputrìya và các trường phái kế tiếp như Sàmmitìya, Dharmottarìya, Bhadrayàniya, Sandàgàrika..., các nhà Nhân thể luận (Pudgalavadin) đã nỗ lực nghiên cứu, trích dẫn từ giáo lý chính thống của đức Phật và đưa ra những quan điểm, những giải thích về sự hiện hữu của một "nhân thể" (pudgala) như một thực thể tồn tại bất biến trong mỗi chúng sanh.
Học thuyết được sự ủng hộ của đông đảo giới học Phật nhưng mặt khác, lại bị chỉ trích, bị phê phán gay gắt từ đông đảo những người khác, nhất là những nhà Thượng tọa bộ (Theravadin) và Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivadin). 
Những người phản bác cho rằng Nhân thể luận trái với tinh thần Vô ngã của Phật giáo, thậm chí có người cho rằng Nhân thể luận làm rối rắm, làm hư hoại giáo lý của đức Phật. 
Ðáp lại những công kích, các nhà Nhân thể luận đã cố gắng chứng minh rằng "Nhân thể" không phải là "Ngã" (Atman) theo như đa số quan niệm rằng "Nhân thể luận" không hề trái nghịch với học thuyết Vô ngã của Phật giáo…” (Hết trích)
Phản biện
Còn sau đây là những lời “chính thống” của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khiển trách Tỳ-kheo Sati khi vị này cũng có ác tà kiến cho rằng THỨC “này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác”, hay nói cách khác như một thực thể tồn tại bất biến trong mỗi chúng sanh”:
“Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì THỨC này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác"?
- Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì THỨC này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
- Này Sati, thế nào là THỨC ấy?
- Bạch Thế Tôn, chính THỨC ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.
- Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là THỨC do duyên khởi, không có duyên, thì THỨC không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông”. (Đại Kinh Đoạn Tận Ái, Trung Bộ 38)
Và đây là lời Phật dạy cho một Tỳ-kheo khác:
“-- Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?
Thế Tôn đáp:
-- Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: "Thế nào là sanh, và sanh này là của ai?", hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: "Sanh là khác và người sanh là khác", hai câu hỏi này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: "Sinh mạng và thân thể là một", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: "Sinh mạng và thân thể là khác", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: "Do duyên hữu nên có sanh…
…Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: "Do duyên vô minh nên có các hành". Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào ... sẽ được đoạn tận." (S.ii,60)
Theo lời dạy trên, khi quan niệm “sinh mạng” hay “linh hồn”, hay “pudgala” là một hay khác với thân thể đều là tà kiến! Và quan niệm này sẽ dẫn đến những tà kiến khác đó là chấp “Ta có tự ngã” hay “Ta không có tự ngã”:
-- “Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: "Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; "Ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn…” (Kinh Tất cả các lậu hoặc, Trung Bộ 1)
Không còn gì rõ ràng hơn lời phân tích dưới đây của Đức Thế Tôn:
-- “Này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã”, như vậy, này Ananda, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.
-- Và này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã”, như vậy, này Ananda, là thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.
-- Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã”, như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng: "Tất cả các pháp là vô ngã”?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã", như vậy, này Ananda, lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa: "Trước đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa” (S.iv,400)
Thế nhưng, nếu các nhà “nhân thể luận” còn muốn cố cãi rằng cái “pudgala” của họ không phài là “ngã”, không phải là “vô ngã”, không không phải là “ngã” hay “vô ngã” v.v.. và v.v.. họ hãy nghiền ngẫm kỹ đoạn chánh Kinh sau đây may ra sẽ hiểu:
“Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, vì đần độn ngu si, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: ... Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế…tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây” (Kinh Phạm Võng, Trường Bộ 1).  
KINH SƯ

Xem thêm 


https://phatgiaodoinay.blogspot.com/2016/03/ma-am.html