Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017

HỎI TĂNG NI BẮC TÔNG VỀ HOA NGHIÊM


Trong 'kinh' Hoa Nghiêm Đại Thừa có toà "Đại lâu các Trang Nghiêm tạng” (Vairochana Vyùha Alankara-garbha) mà đức Di-lặc hóa hiện trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử đã phát biểu: 
"- Đại lâu các này là trú xứ của những ai đã hiểu ý nghĩa Không, Vô tướng và Vô nguyện; của những ai đã hiểu rằng hết thảy các pháp là vô phân biệt, rằng pháp giới vốn là vô sai biệt, rằng chúng sanh giới vốn là bất khả đắc, rằng hết thảy các pháp vốn là vô sinh.
Đây là trú xứ, nơi thường thích ở đối với những ai biết rằng hết thảy các pháp đều không tự tánh, những ai không phân biệt pháp theo bất cứ loại tướng nào...” (Theo “Phật Học Khái Luận”, Chương II, Phần IV. Hoa Nghiêm và Duyên Khởi, HT Thích Chơn Thiện. Nguồn: Thiền luận, D.T. Suzuki, cuốn Hạ, Tuệ Sỹ dịch, tr.173).
Câu hỏi: Phải chăng một kẻ bá vơ nào đó nói được vài từ của Phật thì tất cả những lời của họ đều là Phật Pháp? Một tên gián điệp hạng bét có biết phải hóa thân như kẻ thù để tạo lòng tin nơi kẻ khác không?
Những ai xiển dương cho Hoa Nghiêm có hiểu thế nào là Tiểu Không? Đại Không? Nội Không? Ngoại Không? Nội-Ngoại Không? Không Định? Không Xúc? Không Nguyện Định? Không Tướng Tâm Định? Hư Không Vô Biên Xứ Định thuộc kinh tạng NIKAYA?
Có hiểu rõ sự khác nhau giữa "KHÔNG TÁNH" của Phật Thích Ca và "TÁNH KHÔNG" của Bà-la-môn Long Thọ không?
Đã nói "Vô Nguyện" nhưng tại sao Bụt và các Bồ-tát Bắc Tông là chúa hay phát nguyện?
Câu hỏi: Có phải “Đại lâu các trang nghiêm” cũng là trú xứ của những kẻ loạn luân vì không còn phân biệt cha mẹ, anh chị em, con cái theo bất cứ loại tướng nào?
Câu hỏi: Phải chăng đó cũng là nơi thường thích ở của các tên sát nhân diệt chủng, giết người hàng loạt, vì chúng cũng không còn biết phân biệt ai với ai, xem mạng người không khác gì con sâu cái kén, tất cả vốn là vô sai biệt?
Câu hỏi: Trong Pháp Cú 256, Phật Thích Ca dạy rõ "Bậc trí cần phân biệt, Cả hai chánh và tà!" Bậc trí cần phân biệt những điều đáng phân biệt, phải chăng chỉ có LOÀI THÚ mới biết "hết thảy các pháp là VÔ PHÂN BIỆT, KHÔNG PHÂN BIỆT pháp theo bất cứ loại tướng nào", để rồi đi tới thông dâm như dê, gà, heo, chó và chó rừng; để rồi tàn sát cắn xé lẫn nhau, đúng như Phật tiên tri trong chánh kinh NIKAYA?
TẬP SAN PHẬT HỌC CẤP CAO


TRUY VẤN A DI ĐÀ

Trong 48 Đại Nguyện Của Bụt A-di-đà có:
Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh, chí tâm tín mộ, muốn sanh về cõi nước tôi, nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, thời tôi không ở ngôi Chánh giác; trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chánh pháp.
Câu hỏi: Những kẻ sát nhân với bàn tay đẫm máu, những kẻ loạn luân dâm ác, những kẻ buôn người bán trẻ nhưng nếu “chí tâm tín mộ, muốn sanh về cõi nước ngài A-di-đà, nhẫn đến 11 niệm, miễn sao không phạm tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chánh pháp”; chiếu theo đại nguyện thứ 18 của Bụt A-di-đà, dứt khoát họ sẽ được cứu rỗi an toàn, hưởng an vui nơi cõi Tây phương Cực lạc.
Ngược lại, biết bao nạn nhân vô tội của những ác nhân bị giết chết, nếu họ không tín-nguyện-hạnh thì ai tiếp rước cho họ?
Vong linh của những kẻ bất hạnh ấy phải trôi dạt về đâu? Sao ông A-di-đà không từ bi phát nguyện cứu họ?
Câu hỏiSự cứu rỗi của A-di-đà có quá bất công và phi lý không? Tâm cảnh của người đi cứu rỗi và được cứu rỗi kiểu trên có đại ích kỷ không? 
Câu hỏi: Trong trường hợp này luật nhân quả và sự công bằng thể hiện như thế nào?
Nguyện thứ 19 của A-di-đàLúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh phát bồ đề tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.
Câu hỏi: Chiếu theo đại nguyện trên thì vua quan Lương Võ Đế dựng biết bao nhiêu chùa, tạo quá nhiều công đức (chỉ có Thiền tông là phủ nhận, mặc dù các Tổ xây chùa, xây nhà thờ Tổ không thua gì ai), thế nhưng chỉ vì họ cố tâm hồi hướng, niệm A-di-đà nên mới bị giặc ngoại xâm vào tận nơi giết chết. 
Lúc sống nhất tâm cầu cứu không được cứu, lấy gì bảo đảm sau khi chết được cứu? Chứng minh? Nếu do cộng nghiệp thì tin vào nhân quả nghiệp báo tốt hơn, chứ tin vào A-di-đà liệu có lợi ích gì?
Câu hỏi: Cùng theo đó cũng có biết bao nhiêu thường dân phải tan cửa nát nhà, có cả những nạn nhân vô tội bị giặc giết chết. Như vậy trách nhiệm trực tiếp và gián tiếp từ thảm trạng này thuộc về ai: giặc ngoại xâm, vua quan nhà Lương hay Bụt A-di-đà? Hay cả ba?
Một pháp môn mà những người tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm hành trì lại đem đến bất hạnh cho mình và người khác như vậy, liệu đó có phải là Diệu pháp trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác?
Câu hỏi: Các nạn nhân vô tội của những kẻ tàn ác nếu không biết niệm “A-di-đà”, thì bị bỏ lờ không cứu. Trong 48 đại nguyện của A-di-đà không có một nguyện nào tiếp rước cho họ. Vậy, tính đại từ đại bi thể hiện như thế nào đây?
Nguyện thứ 20: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi, và tu các công đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về cõi nước tôi, nếu chẳng được toại nguyện, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.
Câu hỏi: Căn cứ vào đại nguyện thứ 20 của Bụt A-di-đà, hẳn những kẻ nổi tiếng dâm ác như “Lão Phật gia” Từ Hi Thái Hậu sẽ thừa điều kiện được độ thoát về Tây phương Cực lạc. Dù bà ta có được cải hóa nhưng còn biết bao nạn nhân vô tội của Thái Hậu thì sao? Bụt A-di-đà lấy gì để đền bù thoả đáng và trả sự công bằng cho họ? Những sự cứu rỗi như vậy có vô lý không? Có đáng để một người trí kính ngưỡng, tin theo?
Lấy gì chứng minh A-di-đà đang ở ngôi Chánh giác? Tin vào những kẻ hôn mê cuồng tín ư? Có quá ngây thơ không?
Câu hỏi: "Kinh" A-di-đà và luận A-di-đà Sớ Sao xuất hiện hàng trăm năm sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, được quảng bá giới thiệu từ Cưu Ma La Thập, kẻ dám nhận và loạn dâm với cả mười cung nữ từ vua Dao Tần ban cho. Một cá nhân với tư cách như vậy có đáng tin?
TẬP SAN PHẬT HỌC CẤP CAO

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017

HỎI TĂNG NI ĐẠI THỪA TIN LĂNG NGHIÊM

Trong kinh Lăng Nghiêm ghi lời “Phật” dạy: “Anan, ta có dạy các vị Bồ-tát và A La Hán: “Sau khi ta diệt độ, các ông phải thị hiện thân mình, trong đời mạt pháp để cứu độ chúng sanh đang trầm luân, làm thầy sa môn, cư sĩ, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện thân đàn bà goá, kẻ dâm nữ, người gian xảo, kẻ trộm cướp, người hàng thịt, kẻ buôn bán, để lẫn lộn người chung một nghề nghiệp, đặng giáo hoá chúng sanh trở về chánh đạo”.
Nhưng các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói: “ta đây thật là Bồ-tát, hoặc A La Hán v.v.. hay tỏ ra một vài cử chỉ gì làm tiết lộ sự bí mật, để cho người ta biết mình là Thánh nhơn thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi, các vị ấy mới âm thầm để lại một vài di tích cho người biết thôi”.  (Nguồn: HT Thích Thiện Hoa, Triết Lý Đạo Phật hay là Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm. http://www.thuvienhoasen.org/daicuongkinhlangnghiem-00.htm)
Câu hỏi: Đức Phật và các vị Thánh Thanh Văn A La Hán trong Kinh Nikaya không cần phải lẫn lộn chung nghề với ai nhưng vẫn cứu độ cho bao nhiêu dâm nữ, trộm cướp. Tại sao pháp Đại Thừa “cao siêu” hơn Tiểu Thừa lại không làm được như vậy?
Câu hỏi: Đời mạt pháp vì “vàng thau lẫn lộn”, tại sao Bụt Lăng Nghiêm lại còn muốn “thau vàng lẫn lộn” thêm?
Làm như vậy là đời mạt pháp hay pháp (Lăng Nghiêm) làm mạt đời?
Câu hỏi: Theo kinh Kim Cang, đoạn 28, có đến “tám trăm bốn ngàn vạn ức trăm triệu chư Phật Như Lai”, còn Bồ-tát thì đông vô số kể, nhiều như vi trần và quyền năng cũng vô biên.
Với số lượng “vô lượng vô biên” như vậy, chỉ cần một phần triệu triệu số Bồ-tát hiện thân cứu người thì số dâm nữ, người gian xảo, kẻ trộm cướp đã giảm rất nhiều thậm chí “tuyệt chủng” không còn.
Thế nhưng tại sao số người bất thiện ngày càng tăng thêm? Phải chăng do Bồ-tát Đại Thừa tu chưa xong nên thay vì hoá độ cho kẻ ác “cải tà quy chánh”, trái lại các Bồ-tát Đại Thừa lại bị kẻ ác “cải chánh quy tà”?
Câu hỏi: Các Bồ-tát Đại Thừa biết hoá thân làm “đồng nam, đồng nữ, kẻ dâm nữ, người gian xảo, kẻ trộm cướp”; ngược lại những kẻ xấu này cũng biết hiện thân giả làm Bồ-tát Đại Thừa để dụ dỗ, lừa gạt Phật tử. Làm sao phân biệt được “thau vàng lẫn lộn” đây?
Câu hỏi: Giả sử, có kẻ dựa vào Lăng Nghiêm và chỉ vào các dâm nữ, người gian xảo, kẻ trộm cướp nói bừa rằng đó là các tổ sư Lăng Nghiêm hiện thân cứu đời, các tín đồ Đại Thừa phải trả lời như thế nào?
Họ nên tin vào Lăng Nghiêm, hay tin kẻ nói xấu, hay không nên tin cả hai?
Câu hỏi: Tương tự, có người cầm cuốn sách Lăng Nghiêm, chỉ vào đoạn trích dẫn trên và nói với Phật tử Đại Thừa như sau: “Hoà Thượng Thích Lăng Nghiêm và Thượng Tọa Thích Hoa Nghiêm đã tu thành Bồ-tát Đại Thừa. Hằng đêm họ hoá thân thành gái đứng đường đón khách để thoả mãn cho khách; các ngài biến thành kẻ trộm cướp, giật đồ để gieo duyên hoá độ cho người khác”.
Trường hợp này phải gọi là “Gậy ông đập lưng ông” hay “Gậy Bụt giả đập lưng Tổ dại”?
KINH SƯ CHÁNH TRUYỀN

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

HỎI HÒA THƯỢNG, TIẾN SĨ PHẬT HỌC

Trong 'kinh Duy Ma Cật' (HT Thích Trí Quang dịch giải), phẩm “Đường đi của Phật” có đoạn nguyên văn thế này: 
“Lúc ấy trưởng giả Duy ma hỏi Văn thù đại sĩ, thế nào là hạt giống của Phật?
Văn thù đại sĩ nói, thân thể hiện hữu là giống của Phật, vô minh với ái là giống của Phật, tham sân si là giống của Phật, bốn thứ thác loạn là giống của Phật, năm sự che phủ là giống của Phật, sáu nhập là giống của Phật, bảy thức xứ là giống của Phật, tám tà là giống của Phật, chín não là giống của Phật, mười ác nghiệp là giống của Phật.
Nói tổng quát thì sáu mươi hai kiến chấphết thảy phiền não là giống của Phật”.
Câu hỏi: Nếu hạt giống của Phật như trên, thì hạt giống của những kẻ nói và tin theo còn tệ hại đến dường nào? Có phải nó là hạt giống của ma quỷ?
Những kẻ thù ghét Đức Phật và Đạo Phật nhất có biết “dạy” như vậy không?

Câu hỏi: Pháp môn “bất nhị” trong Duy Ma Cật có lợi cho ai, hại cho ai? Giúp diệt khổ như thế nào? Có phải nó chỉ là trò hý luận nhằm chống phá Đạo Phật ngay từ bên trong???
Câu hỏi: Cưu Ma La Thập là người giới thiệu kinh (tởm) Duy Ma Cật này cho Đại Thừa, cũng là người dám nhận cả mười cung nữ từ vua Diêu Tần ban cho, đến cuối đời phải tự thú đã phạm tội tà dâm (theo Cao Tăng Dị Truyện).

Một nhân cách như thế có đáng để một người có đức hạnh và trí tuệ tin theo, kính ngưỡng không? 

Những kẻ tin theo nếu không phải là thứ "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã"' thì cũng thuộc loại ngây thơ cả tín đúng không?

KINH SƯ CHÁNH TRUYỀN

ĐẠI HAY TIỂU THỪA UẾ NHIỄM?

 Trích kinh “Các Uế Nhiễm”, số 50, Tăng Chi tập 1, Chương 4, V. Phẩm Rohitassa,

…2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có BỐN UẾ NHIỄM này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn UỐNG RƯỢU MEN, UỐNG RƯỢU NẤU, không có từ bỏ RƯỢU MEN, RƯỢU NẤU. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ nhất của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn, hưởng thọ DÂM DỤC, không từ bỏ DÂM DỤC. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ hai của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn CHẤP NHẬN VÀNG và BẠC, không từ bỏ nhận lấy VÀNG và BẠC. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ ba của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn sinh sống với TÀ MẠNG, không từ bỏ TÀ MẠNG. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ tư của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, có BỐN UẾ NHIỄM này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do những uế nhiễm này làm ô nhiễm, nên các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

** Ý KIẾN PHẬT TỬ

Bốn uế nhiễm uống rượu, hành dâm, nhận tiền bạc, sống tà mạng khiến người tu sĩ không chói sáng, không rực sáng; trái lại khiến đọa cõi dữ, địa ngục và nêu gương xấu cho những người theo sau.

Ấy thế mà Đại Thừa giáo qua hàng ngàn năm: vẫn tôn vinh một Tế Điên Tăng uống rượu, ăn thịt chó; vẫn ca ngợi một Cưu Ma La Thập, kẻ dám nhận cả mười cung nữ từ vua Diêu Tần ban cho và tự thú phạm tội tà dâm (Cao Tăng Dị Truyện); vẫn đầy dẫy những tà mạng đồng bóng, bói toán, bùa chú, cúng sao giải hạn v.v... và v.v...

Còn uế nhiễm do nhận tiền bạc thì sao? Trong Bồ-tát giới vẫn còn ghi rành rành nguyên văn thế này

 Nguyên văn giới khinh thứ 1 “- GIỚI KHÔNG KÍNH THẦY BẠN

Nếu Phật tử, lúc sắp lãnh ngôi Quốc vương, ngôi Chuyễn Luân vương, hay sắp lãnh chức quan, trước nên thọ Giới Bồ Tát. Như thế tất cả quỷ thần cứu hộ thân vua và thân các quan. Chư Phật đều hoan hỷ. Ðã đắc giới rồi, Phật tử nên có lòng hiếu thuận và cung kính. Nếu thấy có bậc Thượng Tọa, Hòa Thượng, A Xà Lê, những bậc Ðại đức, đồng học, đồng kiến, đồng hạnh đến nhà, phải đứng dậy tiếp rước lạy chào, hỏi thăm. Mỗi sự đều ĐÚNG NHƯ PHÁP MÀ CÚNG DƯỜNG, HOẶC TỰ BÁN THÂN, CHO ĐẾN QUỐC THÀNH CON CÁI, CÙNG BẢY BÁU TRĂM VẬT ĐỂ CUNG CẤP CHO CÁC BẬC ẤY. Nếu Phật tử lại sinh lòng kiêu mạn, sân hận, ngu si, không chịu tiếp rước lạy chào, cho đến không chịu y theo pháp mà CÚNG DƯỜNG, Phật tử này phạm «khinh cấu tội».”

 Nguyên văn giới khinh thứ 6: “- GIỚI KHÔNG CÚNG DƯỜNG THỈNH PHÁP

Nếu Phật tử, thấy có vị Pháp sư Đại thừa, hay những bậc đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Đại thừa, từ trăm dặm, nghìn dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa, thành ấp, thời liền đứng dậy rước vào, đua đi, lễ bái, cúng dường. Mỗi ngày ba thời cúng dường, TRĂM THỨC UỐNG ĂN, giường ghế, thuốc men, tất cả đồ cần dùng GIÁ ĐÁNG BA LƯỢNG VÀNG đều phải cấp hộ cho pháp sư. Mỗi ngày: sáng, trưa và chiều, thường thỉnh Pháp sư thuyết pháp và đảnh lễ. Không hề có lòng sân hận buồn rầu. Luôn thỉnh pháp không mõi nhàm, chỉ trọng pháp chứ không kể thân. Nếu Phật tử không như thế thời phạm «khinh cấu tội».” (Nguồn Internet. Hết trích)

Sơ sơ bấy nhiêu cũng đủ cho một người có chánh trí thấy đâu là chánh, đâu là tà, đâu là chân, đâu là ngụy. Chỉ có mắt như mù, có tai như điếc, có não như đậu hũ mới không thấy mà thôi.

TẠP CHÍ TỶ GIÁO THỰC HÀNH

LẤY ĐÔNG ĐỊCH YẾU


Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

KINH - LUẬT VỀ TIỀN BẠC


 PHÁP TRÍCH LỤC
] Trích kinh Kandaraka (Kandaraka sutta) (TB II, 51)
… 46. Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt giống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Trên đây là một trong những đoạn chánh Kinh được nhắc rất nhiều lần về một trong những giới hạnh của một vị tu sĩ chân chánh. Trong các giới hạnh này có hạnh từ bỏ không nhận vàng và bạc. Giới hạnh này ngay trong thời Đức Phật còn hiện tiền được thực thi nghiêm chỉnh.
Nhưng chỉ mới một trăm năm sau các Tỳ-khưu dòng dõi Vajji ở Vesālīđã phá Luật khi tự đưa ra mười điều lệ mới, trong đó vị Tỳ-kheo được nhận tiền (Xem phần dưới). Qua đây cũng biết vấn đề nhận tiền bạc là tồn tại cả ngàn năm.
Tất nhiên có một ngàn lẻ một lý do để người tu sĩ nhận tiền. Nhưng với bất cứ lý do gì cũng không được Đức Thế Tôn chấp nhận. Trích đoạn kinh dưới đây là một minh chứng.
] Trích kinh “Manicùlam” (Châu Báu Trên Đỉnh Đầu) (S.iv,325) 
… Ngồi một bên, thôn trưởng Manicùlaka bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong cung vua, một số quần thần nhà vua đang ngồi tụ họp, và câu chuyện sau đây được khởi lên: "Các Sa-môn Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc".
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với hội chúng ấy: "Các Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc". Nhưng bạch Thế Tôn, con không có thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.
Trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, không biết con có nói đúng lời Thế Tôn? Con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật? Con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?
-- Trả lời như vậy, này Thôn trưởng, Ông nói đúng lời của Ta. Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật. Ông đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích.
Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc. Ðối với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục công đức. Ðối với ai được phép dùng năm dục công đức, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp. 
Này Thôn trưởng, Ta nói như sau: Cỏ được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỏ. Củi được đi tìm cầu bởi ai cần đến củi. Cỗ xe được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỗ xe. Người được đi tìm cầu bởi ai cần đến người. Nhưng này Thôn trưởng, không bất cứ một lý do gì Ta nói rằng vàng, bạc được chấp nhận, được tìm cầu.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Cần nhắc lại, không bất cứ một lý do gì vàng bạc được chấp nhận, được tìm cầu nơi người tu sĩ đệ tử Phật chân chánh. Phạm luật là phạm luật, phá giới là phá giới; phải nghiêm khắc nhìn nhận tội thì mới tránh được tội.
³
] Trích kinh “Các Uế Nhiễm”, số 50, Tăng Chi tập 1, Chương 4, V. Phẩm Rohitassa,
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn uống rượu men, uống rượu nấu, không có từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ nhất của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn, hưởng thọ dâm dục, không từ bỏ dâm dục. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ hai của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn chấp nhận vàng và bạc, không từ bỏ nhận lấy vàng và bạc. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ ba của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn sinh sống với tà mạng, không từ bỏ tà mạng. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ tư của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do những uế nhiễm này làm ô nhiễm, nên các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
{  Thừa tự Pháp trích lục
Bốn uế nhiễm uống rượu, hành dâm, nhận tiền bạc, sống tà mạng khiến người tu sĩ không chói sáng, không rực sáng; trái lại khiến đọa cõi dữ, địa ngục và nêu gương xấu cho những người theo sau. Hy vọng những đệ tử Phật tránh được những uế nhiễm này.
 LUẬT TRÍCH LỤC
] TẠNG LUẬT - PHÂN TÍCH GIỚI TỲ-KHƯU, VII. CHƯƠNG NISSAGGIYA (ƯNG XẢ),
] ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:
… Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi khi được nam cư sĩ nói rằng: “Thưa ngài, xin hãy chờ cho ngày hôm nay” lại không chờ đợi? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các Tỳ-khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: Trường hợp đức vua, hoặc quan triều đình, hoặc bà-la-môn, hoặc gia chủ phái sứ giả đem số tiền mua y dành riêng cho vị Tỳ-khưu (nói rằng): ‘Hãy mua y với số tiền mua y này rồi hãy dâng đến vị Tỳ-khưu tên (như vầy).’ Nếu người sứ giả ấy đi đến gặp vị Tỳ-khưu ấy và nói như vầy: ‘Thưa ngài, số tiền mua y này được dành riêng cho đại đức đã được mang lại. Xin đại đức hãy nhận lãnh tiền mua y.’
Người sứ giả ấy nên được vị Tỳ-khưu ấy nói như vầy: ‘Này đạo hữu, chúng tôi không nhận lãnh tiền mua y và chúng tôi chỉ nhận lãnh y đúng phép vào lúc hợp thời.’
Nếu người sứ giả ấy nói với vị Tỳ-khưu ấy như vầy: ‘Vậy có ai là người phục vụ cho đại đức không?’ Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sự cần dùng y nên chỉ ra người phục vụ là người phụ việc chùa hoặc là nam cư sĩ: ‘Này đạo hữu, đây chính là người phục vụ cho các Tỳ-khưu.’
Nếu người sứ giả ấy sau khi đã dặn dò người phục vụ ấy rồi đã đi đến gặp vị Tỳ-khưu ấy nói như vầy: ‘Thưa ngài, người phục vụ mà đại đức đã chỉ ra đã được tôi dặn dò. Đại đức hãy đi đến lúc đúng thời, người ấy sẽ dâng y cho ngài.’
Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu có sự cần dùng y sau khi đi đến gặp người phục vụ ấy rồi nên thông báo nên nhắc nhở hai hoặc ba lần: ‘Này đạo hữu, tôi có nhu cầu về y.’
Trong khi thông báo nhắc nhở hai hoặc ba lần, nếu đạt được y ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được thì nên đứng với trạng thái im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần.
Trong khi đứng với trạng thái im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần, nếu đạt được y ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được rồi ra sức vượt quá số lần ấy và đạt được y ấy thì (y ấy) phạm vào nissaggiya và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Nếu không đạt được thì tiền mua y đã được mang lại là của nơi nào thì nên đích thân đi đến nơi ấy, hoặc nên phái sứ giả đi đến (nói rằng): ‘Này quý vị, các người đã gởi đến số tiền mua y dành riêng cho vị Tỳ-khưu nào, số tiền ấy không có được chút gì lợi ích cho vị Tỳ-khưu ấy. Quý vị hãy thâu hồi lại vật của mình, chớ để vật của quý vị bị mất mát. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy.”
{  Thừa tự Luật trích lục:
Theo trích đoạn Luật nêu trên, vị Tỳ-kheo có thể chỉ định vị “Hộ Tăng” để lo những việc chính đáng đúng Pháp đúng Luật cho mình. Vị Hộ Tăng có thể là người phụ việc cho chùa hoặc nam cư sĩ được tin cậy và có đủ năng lực lo tứ sự cúng dường cho vị Tỳ-kheo.
³
] VII. Chương Nissaggiya (Ưng Xả) (tt), Phần Tơ Tằm  - Điều Học Thứ Tám:
[105] … Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại thọ lãnh tiền bạc vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các Tỳ-khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: Vị Tỳ-khưu nào nhận lấy hoặc bảo nhận lấy vàng bạc hoặc ưng thuận (vàng bạc) đã được mang đến thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Hoặc ưng thuận (vàng bạc) đã được mang đến: hoặc ưng thuận (vàng bạc) đã được mang đến (nói rằng): “Vật này hãy là của ngài” thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ ở giữa hội chúng. Và này các Tỳ-khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị Tỳ-khưu ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các Tỳ-khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, tôi đã thọ lãnh vàng bạc, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.
Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị Tỳ-khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy thì nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hãy nhận biết vật này.” Nếu người ấy nói rằng: “Với vật này, hãy để cho vật gì được mang lại?” Không nên nói rằng: “Hãy mang lại vật này hoặc vật này.” Nên đề cập đến vật được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc đường mía.
Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao đổi và đem lại vật được phép thì tất cả nên thọ dụng trừ ra vị đã thọ lãnh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không thể đạt được thì nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hãy quăng bỏ vật này.”
Nếu người ấy quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy) không quăng bỏ thì nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc là vị Tỳ-khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là vị biết vật đã được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ.
{ Thừa tự Luật trích lục:
Luật ghi rất đầy đủ, giải thích cũng rất đầy đủ, vấn đề còn lại là phải y chỉ thực hành. Phải thấy phạm lỗi là phạm lỗi, nhờ vậy mới tránh khỏi tội lỗi. Sự bao che, bao biện chỉ khiến tội lỗi còn nguyên hoặc tăng trưởng thêm.
³
] ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:
[109] … Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các Tỳ-khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: Vị Tỳ-khưu nào tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
{ Thừa tự Luật trích lục:
Vị Tỳ-kheo không được nhận tiền bạc hoặc bảo nhận tiền bạc, cũng không được trao đổi vàng bạc dưới bất cứ hình thức nào. Vị Tỳ-kheo vi phạm bị tội Ưng đối trị.
³
] VI. CHƯƠNG DƯỢC PHẨM, ĐẠI PHẨM
[85] … Sau đó, Đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng:
- Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép năm sản phẩm từ bò là sữa tươi (khīraṃ), sữa đông (dadhi), sữa bơ (takkaṃ), bơ đặc (navanītaṃ), bơ lỏng (sappi). Này các Tỳ-khưu, có những con đường, những khu rừng vắng, ít nước, ít vật thực, sẽ không được thuận tiện khi đi đường nếu không tiên liệu trước.
Này các Tỳ-khưu, vì sự tiên liệu (về hành trình đường xa) Ta cho phép tầm cầu về gạo lức với vị có nhu cầu về gạo lức, đậu xanh với vị có nhu cầu về đậu xanh, đậu māsa (?) với vị có nhu cầu về đậu māsa, muối với vị có nhu cầu về muối, đường với vị có nhu cầu về đường, dầu ăn với vị có nhu cầu về dầu ăn, bơ lỏng với vị có nhu cầu về bơ lỏng.
Này các Tỳ-khưu, có những người dân có niềm tin đã được an trú, những người này để tiền vàng ở tay của những người làm các vật trở thành đúng phép (kappiyakāraka) (nói rằng): “Hãy dâng đến ngài Đại Đức vật đã làm trở thành đúng phép từ (số tiền) này.” Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép chấp nhận vật đã làm trở thành đúng phép từ điều ấy, nhưng này các Tỳ-khưu Ta không nói rằng: “Vàng và bạc có thể được chấp nhận, có thể được tầm cầu bởi bất cứ cách thức nào.”
{ Thừa tự Luật trích lục:
Theo lời dạy trên vị thí chủ có thể trao tịnh tài cho vị Hộ tăng được tin tưởng để vị này hộ độ đúng pháp đúng luật cho tu sĩ. Còn vị tu sĩ không được tầm cầu vàng bạc theo bất cứ cách thức nào. Luật đã đầy đủ, quy định cũng rõ ràng, nghiêm khắc, vấn đề còn lại là ở người thực hành theo.
³
] TIỂU PHẨM, XII. CHƯƠNG LIÊN QUAN BẢY TRĂM VỊ
 [630] Vào lúc bấy giờ, khi đức Thế Tôn Vô Dư Niết Bàn được một trăm năm, các Tỳ-khưu dòng dõi Vajji ở Vesālī truyền bá trong thành Vesālī mười sự việc:
1.          Được phép cất giữ muối trong ống sừng (kappati siṅgiloṇakappo),
2.          được phép ăn khi bóng mặt trời đã hai ngón tay (kappati dvaṅgulakappo),
3.          được phép đi vào làng rồi ăn thêm lần nữa (kappati gāmantarakappo),
4.          được phép hành lễ Uposatha riêng rẽ (kappati āvāsakappo),
5.          được phép hành sự không đủ Tỳ-khưu (kappati anumatikappo),
6.          được phép thực hành theo tập quán (kappati āciṇṇakappo),
7.          được phép uống sữa chua lúc quá ngọ (kappati amathitakappo),
8.          được phép uống nước trái cây lên men (kappati jaḷogiṃ pātuṃ),
9.          được phép sử dụng tọa cụ không có viền quanh (kappati adasakaṃ nisīdanaṃ),
10.     được phép tích trữ vàng bạc (kappati jātarūparajataṃ).
[631] Vào lúc bấy giờ, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka trong khi du hành ở xứ Vajji đã đến trú tại Vesālī. Tại nơi đó ở Vesālī, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã trú tại Mahāvana (Đại Lâm) nơi giảng đường Kūṭāgāra.
[632] Vào lúc bấy giờ, các Tỳ-khưu dòng dõi Vajji ở Vesālī vào ngày Uposatha (Bố Tát) đổ đầy nước vào cái chậu đồng rồi đặt ở giữa hội chúng Tỳ-khưu và nói với các cư sĩ ở Vesālī đang đi qua lại như vầy:
- Này các đạo hữu, hãy bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa, một pāda, một đồng māsaka. Hội chúng sẽ có việc phải làm về vật dụng.
Khi được nói như vậy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với các cư sĩ ở Vesālī điều này:
Này các đạo hữu, chớ có bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa, một pāda, một đồng māsaka. Vàng bạc không được cho phép đối với các sa-môn Thích tử; các sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc; các sa-môn Thích tử không thọ lãnh vàng bạc; các sa-môn Thích tử đã từ bỏ châu báu vàng ròng và tránh xa vàng bạc.
[661] - Thưa ngài, vàng bạc là được phép?
- Này sư đệ, không có được phép.
- (Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?
- Ở Rājagaha, trong Suttavibhaṅga.
- (Làm việc ấy) phạm tội gì?
- Phạm tội pācittiya (ưng đối trị) về việc thọ lãnh vàng bạc.
- Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, vấn đề thứ mười này đã được hội chúng xác định. Như thế, sự việc này không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ mười này.” (Hết trích)
{ Thừa tự Luật trích lục:
Mới một trăm năm sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, luật nghi đã bị vi phạm. Tất nhiên ai tạo nghiệp tất phải chịu trách nhiệm trước nghiệp báo của mình. Mỗi tu sĩ cư sĩ phải ráng lo cho bản thân mình được trong sạch, được thanh tịnh càng nhiều càng tốt.
"Tự mình làm điều ác, 
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình không làm ác,
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai!"
(Pháp Cú 165)


TẠP CHÍ KINH LUẬT PHẬT

BÁT HỘI CÁI BANG

Dại Phạm Thiên Sahampati và Thiên Chủ Sakka đang ngồi nói chuyện với nhau giữa cung trời Đao Lợi. Thiên chủ Sakka thận trọng mở lời:
- Thưa Đại Phạm Thiên Sahampati, dạo này ‘thiên thể’ của ngài có được bình an không ạ?
- Cảm ơn ngài. Tôi có hơi bị nóng sốt, thân nhiệt lắm lúc lên tới âm 800°C, huyết áp cao hơn lò khí nén. Tôi không nhờ tu thiền học Phật, chắc đã đứt bóng hoàng hôn.
Thiên chủ Sakka chép miệng thở dài:
- Thưa ngài, chắc ngài có theo dõi thời sự. Lúc này nhiều nơi dưới dương trần rất bát nháo. Các Phật tử chân chánh than phiền thấu cõi chư Thiên.
- Tôi nóng mũi cũng vì vậy. Ý ngài muốn nói tới chuyện dân chúng quở trách “Bát hội cái bang”?
- Vâng, thưa ngài. Tôi có gởi vài vị Thiên Lôi xuống xem xét. Vị nào trở lại cũng lắc đầu ngao ngán. Có vị còn sợ hãi, chạy quăng mất dép.
Đại Phạm Thiên Sahampati nhíu mày, hỏi gấp:
- Căng thế cơ à! Thiên Lôi cũng hoảng vía là sao? Cụ thể thế nào?
- Dạ thưa ngài, chẳng biết Ác ma nào đẻ ra cái lễ hội gọi là “đặt bát”. Người ta bày ra chuyện mỗi Tăng Ni ngồi xếp thành hàng dài ôm bình bát chờ thiên hạ kéo đến đi lòng vòng cho tiền lẻ mỗi người. Hình ảnh chẳng khác nào hội chợ của đám ăn xin ăn mày. Họ biến chiếc bình bát cao quý của các vị Thanh Văn Khất thực thành bát ăn xin của kẻ ăn mày đúng nghĩa. Cho nên dân chúng mỉa mai gọi nó là “Bát hội cái bang”.
- Đứng về mặt Từ Bi, người ăn mày là đáng thương đáng giúp! Nhưng đứng về mặt Phạm hạnh, hạng tu sĩ biến thành kẻ ăn mày xin tiền lẻ mới thật đáng trách!
Khuôn mặt Thiên chủ Sakka tái nhợt:
- Thưa ngài, có nơi Tăng Ni còn đi thành hàng dài, lũ lượt ôm bình bát rảo quanh chùa nhận tiền lẻ. Nhiều kẻ tà mạng tranh đoạt nhau đi trước, họ làm giả trưởng lão để được nhận tiền bạc nhiều hơn. Ngôi chùa bị biến thành một cái chợ hỗn loạn, giành giựt. Tôi có lần dại dột ghé ngang, họ đè suýt toi mạng. Khiếp quá! Tới giờ vẫn còn sợ!
Đại Phạm Thiên Sahampati miệng thở phì phì, hai tay ôm lấy ngực:
- Trời ạ, nghe ngài kể, tôi cũng muốn ngẹt thở luôn! Hình ảnh ngôi chùa cao quý thanh tịnh đã bị hủy hoại đến thế rồi sao?
- Mọi người cứ vô tư, vô cảm, thưa ngài!
- Tôi cam đoan một điều: một vị tu sĩ có lòng tự trọng, có giới hạnh đàng hoàng dứt khoát có được mời cũng không đến dự những đám như vậy.
Thiên chủ Sakka nhún vai:
- Vâng thưa ngài, cùng lắm chỉ một lần dại dột như tôi. Tăng Ni chân chánh thì ít, còn lại chỉ toàn sư giả, ni dỏm hoặc thứ “sư tử trùng thịt sư tử nhục”. Ai đó nói đồng tiền tanh tưởi cũng có lý do của nó.
- Ở đâu bị đồng tiền tha hóa, ở đó có Ác ma chi phối. Người xưa còn biết “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”; thà ít mà tốt, còn hơn đông mà thối nát.
- Vâng. Tuy vậy, có nơi tổ chức rất đông nhưng cũng rất hay.
- Vừa đông, vừa tốt như thế nào?
- Dạ thưa, giáo hội trong một tỉnh chọn ra vài chùa được tổ chức lễ. Trong chùa có một khu vực riêng đặt các dãy bàn dài. Mỗi chùa các nơi khác cử hai vị cư sĩ Hộ Tăng đại diện cho chùa mình ngồi một bàn. Chỉ có các cư sĩ Hộ Tăng này được nhận tịnh tài hoặc tứ vật dụng cúng dường của các thí chủ. Khu vực này không có bóng dáng một Tăng Ni nào cả. Quý Tăng Ni chỉ ở khu vực làm lễ, tụng kinh, ban quy y, thọ giới cho các Phật tử. Mọi thứ đều trật tự quy củ. Không khí rất trang nghiêm và thánh thiện. Thưa ngài.
- Đúng vậy. Tổ chức như thế càng đông càng hay. Quý Tăng Ni mới gìn giữ oai nghi tế hạnh. Người cúng dường mới thật sự có phước báu. Các ngôi chùa mới xứng đáng là biểu tượng cao quý của Đạo Pháp.
Nói xong Đại Phạm Thiên Sahampati quay sang Nam Tào, Bắc Đẩu nói như ra lệnh:
- Này Nam Tào, Bắc Đẩu nghe đây! Hai ông hãy mau xuống dương trần thông báo cho các Thần Hộ Tự để nói rõ cho mọi người cùng biết. Từ nay, chùa nào còn tổ chức “Bát hội cái bang” phi pháp phi luật, trụ trì chùa đó phải chịu trách nhiệm trước nhân quả. Tăng Ni nào dự “Bát hội” nhận tiền, dù có đàng hoàng cũng bị xem là Tăng Ni giả dạng, không xứng là con Phật. Phật tử nào cúng dường tiền không đúng pháp, không đúng luật chỉ khiến Tăng Ni hư hỏng thêm, lợi bất cập hại, có quả xấu nhiều hơn là quả tốt, phải ngưng ngay. Mọi người phải ý thức góp phần giúp Phật giáo duy trì hưng thịnh.
- Dạ, xin vâng!
Nam Tào, Bắc Đẩu cung tay vái chào Đại Phạm Thiên Sahampati và Thiên Chủ Sakka và tức khắc thi hành mệnh lệnh. Thiên Chủ Sakka hoan hỷ hẳn lên:
- Lành thay, lành thay. Mong mọi người hiểu rõ những việc đáng làm nên làm, còn những việc không đáng làm nên từ bỏ, để Phật Pháp được duy trì tốt đẹp, Tăng Ni thật sự là mẫu mực của thế gian.
- Mong lắm thay! Mong lắm thay!
Hai vị Thiên Nhân cùng nắm tay nhau, phóng hào quang sáng rực một góc trời.
PHẠM THIÊN