Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018
CẦU NGUYỆN CÓ SIÊU THOÁT KHÔNG???
Hai cư sĩ ngồi nói chuyện với nhau. Cư sĩ thứ nhất:
_ Này ông, thời Đức Phật còn hiện tiền, Phật giáo có lễ cầu siêu không?
_ Hoàn toàn không!
_ Sao ông biết?
_ Chính Đức Thế Tôn đã dạy rồi!
_ Dạy thế nào? Trong Kinh nào?
Vị cư sĩ thứ hai mở laptop nhấn vài phím rồi cất giọng trịnh trọng:
_ Ông hãy lắng nghe cho kỹ, bài kinh “Người Đất Phương Tây hay Người Đã Chết” trong Tương Ưng 4, số 311, Đức Thế Tôn đã dạy cho thôn trưởng Asibandhakaputta thế này: “-- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!" Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.
Vị cư sĩ thứ nhất chắp hai tay:
_ Thật vô cùng chí lý, chí nhân quả. Nhưng còn những người sống thiện làm lành, Phật có dạy thêm gì không, thưa huynh?
Vị cư sĩ thứ hai gật đầu:
_ Có, Đức Phật cũng đã dạy rõ: “-- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: "Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!". Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: "Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!" Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”.
Vị cư sĩ thứ nhất lại chắp tay cung kính:
_ Mô Phật, chánh tín quá rõ ràng, quá chí lý, quá nhân bản!
Cư sĩ thứ hai đồng tình:
_ Đúng vậy, Phật tử nào còn không hiểu thì quá si mê, quá vô minh, quá tà kiến.
_ Thế nhưng đó là đối với con người; còn với bàng sanh, súc sanh, thú vật thì sao?
Cư sĩ thứ hai trợn tròn mắt:
_ Trời đất, ông hỏi gì kỳ vậy? Ông phỉ báng Pháp vừa thôi chứ. Địa ngục không tha đâu!
Cư sĩ thứ nhất vội vàng phân bua:
_ Không dám, thưa ông bạn. Số là tôi nghe có mấy ông đạo sĩ nhận làm lễ cầu siêu cho mấy con chó chết của vài ông nhà giàu, nên mới hỏi thế.
_ C…h…ó chết?
_ Đúng vậy! Thiên hạ còn xầm xì kháo nhau tiền công bồi dưỡng cho một đám tụng chó chết còn hơn cả một tháng lương của người công nhân.
Cư sĩ thứ hai khịt mũi:
_ Người sống còn không biết cứu mình, huống hồ vật chết! Ông hãy nhớ, Đức Phật luôn nhắc nhở: kẻ ôm tà kiến chỉ có hai sanh thú, địa ngục hoặc súc sanh. Không y chỉ lời Phật dạy, làm trái đạo lý nhân quả, nguy hiểm lắm đó!
LONG VƯƠNG
CỘNG NGHIỆP SOS!!!
Xuân thu nhị kỳ, năm thì mười họa, lâu lắm rồi Hồng Hài Nhi mới lại có dịp hầu trà cho ba vị Đại Thánh đang trấn giữ trên ba đỉnh Tuyết Sơn hùng vĩ.
Họ là các bậc đại trưởng lão đã vang danh thiên hạ từ lâu, gồm Bắc Đẩu Đại Vương, Nam Tào Thiên Chủ và Mật Thánh Tinh Quân. Cả ba ngài đang say sưa bàn luận về cộng nghiệp trong vụ thiên tai sóng thần vừa qua.
Hồng Hài Nhi đứng hầu các vị được dịp hiểu thêm về pháp luận nơi các bậc Đại Thánh khiến cho chú tâm phục bội phần. Đã thế chú còn thán phục nhiều hơn khi thấy các bậc tiền bối biết nêu gương hiếu hạnh hòa thuận, kính trọng nhau như “nước hòa với sữa”.
Câu chuyện đang lúc cao trào, bỗng nhiên một quầng sáng chói lòa xuất hiện, từ giữa vầng hào quang vị Phạm Thiên Bakka bước ra. Vừa lướt qua ngưỡng cửa, vị Thiên chủ đã ngã nhào trước mặt ba vị Đại Thánh, cất giọng thảm não:
_ Bớ các ngài, xin từ bi cứu vớt các Thiên con của tôi.
Cả ba vị Đại Thánh giật mình:
_ Họ mà cũng bị sóng thần à?
Phạm Thiên mau miệng:
_ Còn hơn cả sóng thần, thưa các ngài, các Thiên con của tôi đang bị “sóng đần” cuốn trôi.
Cả ba Đại Thánh chau mày:
_ Sóng đần là sao?
_ Không dấu gì các ngài, chẳng biết các Thiên con của tôi bị nhiễm phải cái giống gì, mà mới đây, có một bọn người tung tích đáng nghi ngờ, xông vào cung điện của tôi, tự nhận có họ hàng với tôi, tự xưng là đệ tử ruột của cha tôi; rồi tự phong là chú, bác, cô, mợ, cậu, dì của các con tôi. Vậy mà đám Thiên con của tôi tin ngay và còn nhắm mắt nghe theo mọi lời dạy trái ngược của họ. Tôi nói thế nào các Thiên con cũng không nghe.
Bắc Đẩu Đại Vương chép miệng:
_ Đến Đức Phật mà yêu quái còn dám giả hình, giả tiếng. Sao đám Thiên con nhà ngài lại cả tin như thế?
_ Bạch các ngài, nào đã hết tội, một số Thiên con còn dại khờ dẹp cả bàn thờ bố tôi, tức ông nội họ, đem thờ những hình tượng lạ hoắc do các kẻ đáng nghi kia giới thiệu. Khốn nỗi đám Thiên con lại nghe lời bọn cha căng chú kiết ấy và tin rằng đó mới chính là “Thiên phả” của dòng họ mình. Chưa hết, các Thiên con lại còn coi thường nề nếp Thiên gia, khen nhau nốc rượu là thánh; bày trò xem ngày, chọn giờ, coi bói, xin xăm, xủ quẻ, chú thuật, cúng sao giải hạn, ếm quỷ trừ ma… hầm bà lằng đủ thứ mê tín. Rõ khổ thân tôi!
Đến lượt Nam Tào Thiên Chủ lắc đầu:
_ Cây có cội, nước có nguồn. Sao các Thiên con nhà ông không biết tìm về chính nguồn cội của mình để phân biệt thực-giả, đúng-sai?
_ Được như thế đã phước, đàng này các Thiên con còn tin lời “mẹ mìn” quay lại chê bai chính truyền thống của tổ tiên mình, khinh thường cả lời dạy đích thực của bố tôi. Mấy chư Thiên lớn đích tôn còn tin lời luận bàn “vi diệu” của họ, cũng quay lại phỉ báng coi thường chính di chúc của bố tôi. Thiên con nào cũng đều quên cả lời ông nội chỉ dạy. Tất cả chỉ giỏi chia chẻ sợi tóc làm tư làm tám, luận đông luận tây vanh vách, cứ như thế khổ đã không hết lại còn thấy khổ thêm.
Nghỉ một hơi lấy sức, Phạm Thiên Baka tiếp tục ngẹn ngào:
_ Bạch các ngài, các Thiên con nhà tôi ai nấy đều ngấm ngầm tranh hơn với nhau. Thiên thì cho mình là chính thống, Thiên thì nói mình cao siêu tối thượng tối tôn. Hết thảy đều tẩm ngẩm khinh thường lẫn nhau, xem những anh em khác chẳng khác gì ngoại đạo hoặc thứ tiểu nhân tiểu trí. Giờ đây Thiên gia tôi tan nát vì có đến tám mươi bốn ngàn vị xứ quân. Mỗi Thiên con hùng cứ một phương, chẳng ông nào chịu kém ông nào.
Mật Thánh Tinh Quân sẵng giọng:
_ Họ tự cao, tự đại, tự tung, tự tác đến thế cơ à? Họ đã trúng kế ly gián của người ngoài rồi. Giờ bọn họ đang ở đâu, ngài đưa chúng tôi tới ngay để dạy cho họ bài học về cảnh giác, chánh tín, chánh tông?
_ Thưa, không xa đây lắm, mời các ngài theo tôi.
Nói xong, Phạm Thiên Bakka liền xoay người biến mất tại chỗ khiến cho Hồng Hài Nhi bàng hoàng, giật mình và… tỉnh giấc.
Hóa ra đó chỉ là một giấc mơ. Hồng Hài Nhi liền vội vàng nhỏm dậy, đến bên Tàng Kinh Các, vói tay lấy cuốn “Thần tri mộng giải”, lật hết trang này đến trang khác nhưng vẫn không có đoạn nào lý giải ý nghĩa giấc chiêm bao vừa qua.
Hồng Hài Nhi định bụng sáng mai sẽ lên in-tờ-nét viết trên phây-búc của mình, may ra có bậc cao minh nào đó thương tình giải đoán. Nghĩ xong Hồng Hài Nhi lại chìm trong giấc ngủ.
Hy vọng những người con Phật đọc xong truyện này, họ sẽ không như Hồng Hài Nhi mơ rồi lại ngủ, mà tỉnh thức thoát khỏi cơn mơ ngủ suốt hơn hai ngàn năm qua.
HỒNG HÀI NHI
ĐỐ PHẬT TỬ. ĐỐ CHƯ TIÊN
Thiên chủ Sakka với ánh sáng chói loà hiện đến hỏi Đại vương Vessavana:
_ Đố ngài, vì sao bài kinh “Đại Bát Niết Bàn” nguyên thuỷ thuộc Trường Bộ Pali cấp I lại bị đổi tên thành kinh “Du Hành” trong Trường A-Hàm cấp II?
_ Dễ ợt! Để mọi người không còn chú ý đến bài kinh chính gốc ghi lại những sự kiện quan trọng đặc biệt trong những ngày tháng cuối cùng trước lúc Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, và từ đó mới cài vào kinh “Đại Bát Niết Bàn giả” với các dữ kiện sai lạc. Tà kinh phải như thế.
_ Đố ngài, vì sao kinh “Đại Bát Niết Bàn thật” lại bắt đầu bằng sự kiện vua A-xà-thế cử sứ giả Bà-la-môn Vassakara đến hỏi Đức Phật về việc tấn công dân thành Vajii hùng mạnh?
_ Dễ ợt! Vì nó cũng tương tự như sự hưng vong của Tăng bảo: sự đoàn kết giúp dân Vajii hùng mạnh như thế nào thì đối với Tăng đoàn cũng y như vậy. Những sự kiện tối quan trọng thường được giới thiệu đầu tiên.
_ Đố ngài, vì sao ngay sau khi Bà-la-môn Vassakara bộc lộ âm mưu chống phá dân Vajji bằng mưu kế ngoại giao và ly gián từ giã ra về, Đức Thế Tôn đã tức khắc cho triệu tập tất cả các Tỳ-kheo sống quanh thành Ràjagaha (Vương Xá) để dạy về “Bảy pháp không bị suy giảm trong Tăng đoàn” trong đó nhấn mạnh đến tinh thần đoàn kết chúng Tăng?
_ Dễ ợt! Vì Đức Chánh Biến Tri thừa biết Bà-la-môn Vassakara và con cháu của ông ta cũng sẽ dùng mưu kế ngoại giao và ly gián, giả bộ kết thân hoặc làm gián điệp để gây chia rẽ nội bộ. Những kẻ hèn hạ đều biết phải ly gián phá hoại ngay từ bên trong, có vậy mới hy vọng tiêu diệt một giáo đoàn thù nghịch hùng mạnh đã lấn át chính tôn giáo và giai cấp của họ.
_ Đố ngài, hệ quả đầu tiên của kế “ngoại giao ly gián” trong Phật giáo là gì?
_ Dễ ợt! Mới chưa đầy một trăm năm sau khi Phật nhập diệt, chính các Tỳ-kheo tại Vajji là những người đầu tiên nêu thêm mười điều luật mới gây phá hoà hợp Tăng.
_ Đố ngài, thực tế Tăng đoàn đã bị ly gián đúng như vậy, nhưng tại sao kinh văn lại không nói thẳng cho mọi người biết?
_ Dễ ợt! Chuyện này nếu chưa xảy ra mà nói thẳng sẽ gây phản tác dụng, các Tỳ-kheo sẽ nghi ngờ lẫn nhau, kẻ ngoài chưa lý gián, Tăng đoàn đã tự phân hoá. Do vậy các Tỳ-kheo không được đa nghi nhưng cũng chớ nên tin bừa tín ẩu các luận sư Bà-la-môn và các kinh văn sau này, nhất là họ phải đoàn kết chặt chẽ hơn bao giờ hết.
_ Đố ngài, vì sao mưu kế thâm hiểm “ngoại giao và ly gián” của Bà-la-môn Vassakara lại bị ai đó lược bỏ trong kinh “Du Hành” của Trường A-hàm phương Bắc?
_ Dễ ợt! Điều này chứng tỏ “ai đó” phải là một gián điệp mới làm được chuyện này, và nếu để mọi người biết huỵch tẹc kế độc, làm sao phá hoại được? Làm sao còn đòn ly gián “…giáo pháp Đại thừa, nói cho những người đi theo giáo pháp Đại thừa tối thượng… bởi vì những ai ưa pháp Tiểu thừa, vẫn còn ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả”? (kinh Kim Cang) (1)
_ Đố ngài, trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có khái niệm Đại thừa, Tiểu thừa nhưng tại sao “Bụt Kim Cang” đã dạy vô phân biệt lại còn phân biệt như vậy?
_ Dễ ợt! Điều này chứng tỏ kẻ sáng tạo ra Kim Cang cũng là một nhà ngoại giao và ly gián.
_ Đố ngài, vì sao các nhà đại trí tuệ thuộc truyền thống Mahayana - Đại thừa lại không hiểu những điều dễ hiểu như vậy?
_ Dễ ợt! “Trí to” mà ham xe lớn cũng dễ bị dụ. Đã sái cổ tin vào kinh văn ngụy tạo, phù thủy nói gì mà không nghe, xỏ mũi dắt đi đâu mà không theo.
_ Đố ngài, vì sao những điều hiển nhiên như vậy lại không được các Tỳ-kheo Nguyên Thủy Tiểu Thừa lên tiếng báo động, giải thích, chứng minh để thống nhất Tăng đoàn?
_ Dễ ợt! Vì họ mới nguyên thuỷ về y áo chứ chưa nguyên thuỷ về Pháp Bảo. Thật vậy, rất nhiều Tỳ-kheo Therevada cũng tin tưởng vào các ông luận sư “đáng nghi ngờ” của mình, và họ đều cho rằng những lời dạy của Phật trong Kinh điển gốc chỉ là thường pháp, là tục đế; còn tạng luận của các luận sư mới là chân nghĩa đế, là pháp siêu việt, là quan trọng nhất. Trong đó luận sư Phật Âm - Buddhaghosa, vốn là một Bà-la-môn khét tiếng trong việc chống phá các đạo ly khai (đương nhiên cũng có cả Đạo Phật), nhưng lại được xem như một vị thánh tăng nhất ngôn y chỉ (2). Ông cứ đọc các chú giải của ông ta với một tinh thần khách quan, không mê tín sẽ biết. Các gián điệp ngoại học đã dám chui vào Bắc tông phá hoại, họ còn sợ gì Nam tông. Các tu sĩ “thừa tự y áo nhưng không thừa tự Pháp” tự cảnh giác cho mình còn không xong, đi báo động cho ai?
_ Đố ngài, làm thế nào để các “hành giả xe to, xe nhỏ” mở mắt tỉnh thức biết được thật giả, trắng đen, chánh tà để thống nhất làm một?
_ Dễ ợt! Tất cả phải trai giới cho thanh tịnh, dám ăn ngày một bữa, nghiền ngẫm những lời dạy đích thực của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong kinh điển gốc Pali sẽ hiểu. Giới thanh tịnh thì tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì kiến thanh tịnh. Kiến thanh tịnh thì đoạn nghi thanh tịnh. Đoạn nghi thanh tịnh thì có đạo – phi đạo tri kiến thanh tịnh chứ sao.
_ Thưa ngài, làm được như thế không phải dễ. Cho nên Tăng đoàn ngày nay vẫn còn bị rơi vào gian kế của các ông luận sư gốc Bà-la-môn, bị chia năm xẻ bảy, manh mún đến tám mươi bốn ngàn tông phái.
_ Dễ ợt! Hiểu được như vậy là bắt đầu hưng thịnh rồi đấy!
Nói xong ánh sáng hào quang của hai vị Chư Thiên hoà quyện vào nhau làm rực rỡ cả bốn phương trời.
TIÊN TRÍ
________________
(1) Kinh Kim Cang, đoạn 25, bản dịch của HT Thích Trí Quang.
(2) Theo bản tường trình Dhammakitti viết về Buddhaghosa (Nguyên tác: The Life and work of Buddhaghosa. Tác giả: Bimala Charan Law, M.A., B.L; Dịch giả: Tỳ Khưu Thiện Minh) “Trong khi tường trình về triều đại nhà vua Mahānāma trị vì tại đảo quốc Tích Lan vào những năm đầu thế kỷ thứ V sau CN, cuốn biên niên sử Mahāvaṃsa đã kể lại cuộc đời và sự nghiệp của Buddhaghosa như sau: "Ông là một thanh niên thuộc đẳng cấp Bà-la-môn, sinh tại vùng phụ cận thị trấn Magadha, là nơi trồng cây Đại Bồ-đề, ông đã hoàn tất việc huấn luyện theo phái "vijja" và "sippa”, và có kiến thức rất sâu rộng về ba phái "Phệ-đà”, và ông cũng là người có được nhiều tài năng uyên bác, đã hoạt động không biết mỏi mệt chống lại các phái ly giáo, đã tự coi mình là người chống lại ly giáo khắp vùng Jumbudīpa…”
"HOÁT NHIÊN ĐẠI NGỘ" hay "HOÁT NHIÊN NGỘ ĐỘC???
Đọc kỹ các trích đoạn Chánh Kinh sau đây từ chính kim khẩu của Đức Thế Tôn sẽ rõ các thiền sư xưa nay chỉ 'tưởng thấy giác ngộ là giác ngộ', 'tưởng thấy Niết Bàn là Niết Bàn'; chứ không hề chứng Chánh Đạo thực sự
>> Trích kinh "Kìtàgiri", số 70, Trung Bộ 2:
“Này các Tỷ-kheo, Ta KHÔNG nói rằng trí tuệ được hoàn thành lập tức. Nhưng này các Tỷ-kheo, trí tuệ được hoàn thành nhờ HỌC TỪ TỪ, HÀNH TỪ TỪ, THỰC TẬP TỪ TỪ”.
>> Ý KIẾN CON PHẬT:
Chính vì vậy, này các tà sư, chỉ có TÀ TUỆ mới được hoàn thành lập tức, mới có kiểu 'hoát nhiên đại ngộ' để hấp dẫn mấy kẻ ngây thơ.
Những người trí đều biết “dục tốc bất đạt” vội vã gánh thất bại. Lẽ thường còn như thế huống hồ lẽ đạo.
Do vậy các bậc Chánh thiện sư đều thừa nhận CHÁNH TRÍ TUỆ phải được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ.
>> Trích kinh "Canki", số 95, Trung Bộ 2:
“Này Bharadvaja, chính nhờ luyện tập, tu tập và hành tập NHIỀU LẦN, chân lý mới được chứng đạt. Cho đến như vậy, này Bharadvaja, là CHỨNG ĐẠT CHÂN LÝ, cho đến như vậy, chân lý được chứng đạt, cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương sự chứng đạt chân lý”
>> Ý KIẾN CON PHẬT:
Này các Bà-la-môn Đại Xế, chỉ có NGỤY CHÂN LÝ mới được chứng đạt không phải do luyện tập, tu tập và hành tập nhiều lần.
Chính vì vậy, này các Bà-la-môn Đại Xế, chỉ có NGỤY CHÂN LÝ mới được chứng đạt nhờ “cá ngáp phải ruồi”, mới kiến tánh thành Bụt… tưởng.
Cho đến như vậy, này các Bà-la-môn Đại Xế, các vị chủ trương chứng đạt NGỤY CHÂN LÝ.
>> Trích kinh Phật Tự Thuyết:
“Cũng vậy này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, các học pháp là TUẦN TỰ, các quả dị thục là TUẦN TỰ, các con đường là TUẦN TỰ, KHÔNG CÓ sự thể nhập chánh trí THÌNH LÌNH.
Này Paharada, vì rằng trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này các Tỷ-kheo, đây là VI DIỆU chưa từng có thứ nhứt. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo THÍCH THÚ trong PHÁP và LUẬT này” (Ud 51)
>> Ý KIẾN CON PHẬT:
“Cũng vậy này các Bà-la-môn Đại Xế, ngoài Pháp và Luật của Đức Thích Ca, có những học pháp KHÔNG TUẦN TỰ, có các quả dị thục KHÔNG TUẦN TỰ, có các con đường là KHÔNG TUẦN TỰ, nên mới CÓ SỰ THỂ NHẬP TÀ TRÍ THÌNH LÌNH.
Chính vì thế, trong truyền thống Đại Xa của các người mới có chuyện "Nhất niên Phật tại tiền. Nhị niên Phật thăng thiên. Tam niên bất kiến Phật" (Năm đầu còn nhớ Phật. Năm hai cho Phật lên trời. Năm ba không còn biết Pháp và Luật Phật)
Này các Bà-la-môn Đại Xế, vì rằng trong Pháp và Luật của Đức Thích Ca, các học pháp là TUẦN TỰ, các quả dị thục là TUẦN TỰ, các con đường là TUẦN TỰ, KHÔNG CÓ sự thể nhập chánh trí thình lình.
Này các Bà-la-môn Đại Xế, đây là VI DIỆU chưa từng có thứ nhứt. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này”
MAHASILA
BẢY NGÀY LUẬN ĐẠO
Ngày thứ nhất
_ Trong kinh Nikaya, Phật có dạy thần chú không?
_ Hoàn toàn không.
_ Sao người ta lại niệm?
_ Vì ông chú của thần linh bảo thế.
Ngày thứ nhì
_ Trong kinh Nikaya, Phật có dạy 16 tầng Tuệ Minh Sát không?
_ Không.
_ Sao người ta lại tập?
_ Vì họ chê pháp tu của Đại Thừa là do các Tổ sáng chế ra, không phải của Đức Phật.
_ 16 tầng Tuệ Minh Sát do ai chế tác?
_ Tổ Tiểu Thừa!
_ Sao mọi người tin Tổ hơn tin Phật?
_ Vì Phật... tử!
_ Nghĩa là sao?
_ “Tử” là chết. Phật “tử” là Phật “chết”. Phật làm sao còn hiện hữu với những kẻ không theo Pháp và Luật của Ngài?
_ Chết thật!
Ngày thứ ba
_ Có tông phái chủ trương kết hợp âm dương, nam nữ “phối hợp song tu” để được giải thoát?
_ Đúng vậy. Để giải thoát khỏi kiếp làm người và làm các chúng sanh khác ngay trong đời hiện tại.
Ngày thứ tư
_ Chân lý chỉ có một hay hai?
_ Nếu chân lý có hai ba, và “lý” nào cũng là “chân”, Đức Phật ra đời làm gì?
_ Loài người có tám vạn bốn ngàn căn tánh khác nhau, vì vậy cũng phải có tám vạn bốn ngàn pháp môn mới cứu hết được?
_ Đó là thuốc của phường Sơn Đông mãi võ. Thuốc chữa Khổ Đế của Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ cần một toa duy nhất là “Đạo Đế” chữa cho tất cả mọi người, mọi lúc, mọi nơi.
_ Tất cả các tông phái đều có dạy Đạo Đế - Bát Chánh Đạo, chỉ có phương pháp tu tập rất khác nhau?
_ Nếu không biết tu theo Chánh Tinh Tấn – Bốn Chánh Cần: ngăn ác, diệt ác, sanh thiện, tăng trưởng thiện, mọi tinh tấn trái ngược là tà tinh tấn. Nếu không tu theo Chánh Niệm – Bốn Niệm Xứ, mọi niệm trái ngược đều là tà niệm. Nếu không tu theo Chánh Định, tức Bốn Thiền - Bốn Thánh Định, mọi thiền định trái ngược đều là tà thiền, tà định. Chân lý chỉ có một không có hai. Ngoài chân lý là tà lý. Ngoài chánh pháp là tà pháp.
Ngày thứ năm
_ Trong kinh Nikaya, các tu sĩ Bà-la-môn có xuyên tạc, chống phá đạo Phật không?
_ Có. Có rất nhiều là đằng khác.
_ Nhưng tại sao Bắc Tông, Mật Tông và cả Nam Tông đều một chiều tin tưởng tuyệt đối các luận sư gốc Bà-la-môn của mình như Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Phật Âm…?
_ Vì tất cả đều muốn chứng minh lời tiên tri của Đức Phật trong kinh Gotami là hoàn toàn chính xác.
_ Tiên tri thế nào?
_ Phật pháp thay vì tồn tại một ngàn năm, chỉ còn năm trăm năm!
Ngày thứ sáu
_ Đức Phật có hoát nhiên đại ngộ không?
_ Không. Ngài chứng Tam Minh trong ba canh: canh đầu - Túc Mạng Minh, canh giữa - Thiên Nhãn Minh, canh cuối - Lậu Tận Minh.
_ Sao các Tổ đều hoát nhiên đại ngộ?
_ Vì các ngài muốn đắc nhanh hơn Phật!
Ngày thứ bảy
_ Các Tỳ-kheo Thanh Văn có hoát nhiên đại ngộ không?
_ Có và không.
_ Nghĩa là sao?
_ Ngộ đạo thì có, nhưng ngộ quả thì không.
_ Các Thiền sư cũng thế!
_ Được thôi, nếu họ không “giáo ngoại biệt truyền” (*)
Thiền Sinh
________________
(*) PHÁP TRÍCH LỤC
] Trích kinh Kìtàgiri, số 70, Trung Bộ 2:
“Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng trí tuệ được hoàn thành lập tức. Nhưng này các Tỷ-kheo, trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ”.
{ Thừa tự Pháp trích lục:
Chính vì vậy, này các tà sư, chỉ có tà tuệ mới được hoàn thành lập tức, mới có kiểu hoát nhiên đại ngộ để hấp dẫn mấy kẻ ngây thơ. Những người trí đều biết “dục tốc bất đạt” vội vã gánh thất bại. Lẽ thường còn như thế huống hồ lẽ đạo. Do vậy các bậc Chánh thiện sư đều thừa nhận chánh trí tuệ phải được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ.
] Trích kinh Canki, số 95, Trung Bộ 2:
“Này Bharadvaja, chính nhờ luyện tập, tu tập và hành tập nhiều lần, chân lý mới được chứng đạt. Cho đến như vậy, này Bharadvaja, là chứng đạt chân lý, cho đến như vậy, chân lý được chứng đạt, cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương sự chứng đạt chân lý”
{ Thừa tự Pháp trích lục:
Này các Bà-la-môn Đại Xế, chỉ có ngụy chân lý mới được chứng đạt không phải do luyện tập, tu tập và hành tập nhiều lần. Chính vì vậy, này các Bà-la-môn Đại Xế, chỉ có ngụy chân lý mới được chứng đạt nhờ “cá ngáp phải ruồi”, mới kiến tánh thành Bụt… tưởng. Cho đến như vậy, này các Bà-la-môn Đại Xế, các vị chủ trương chứng đạt ngụy chân lý.
] Trích kinh Phật Tự Thuyết:
“Cũng vậy này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình.
Này Paharada, vì rằng trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhứt. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này” (Ud 51).
{ Thừa tự Pháp trích lục:
“Cũng vậy này các Bà-la-môn Đại Xế, ngoài Pháp và Luật của Đức Thích Ca, có những học pháp không tuần tự, có các quả dị thục không tuần tự, có các con đường là không tuần tự, nên mới có sự thể nhập tà trí thình lình.
Này các Bà-la-môn Đại Xế, vì rằng trong Pháp và Luật của Đức Thích Ca, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này các Bà-la-môn Đại Xế, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhứt. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này”
CÙNG LÀ TIẾNG VIỆT VÀ XEM NHƯ NGUYÊN THUỶ NHƯNG TẠNG PALI KHÁC A HÀM NHƯ THẾ NÀO?
Như đã được biết, việc phân cấp thứ tự nguồn tư liệu là yêu cầu khách quan có ý nghĩa thiết thực nhằm giúp cho việc nghiên cứu, đánh giá, so sánh các kinh văn tài liệu được chính xác và trung thực.
Theo các nguyên tắc khách quan của Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, số lần chuyển dịch ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng để xác định thứ tự các tài liệu.
Theo đó các tài liệu, kinh văn được dịch từ tài liệu nguồn hoặc ngôn ngữ gốc đầu tiên phải được xem là các tài liệu cấp 1. Dựa vào tài liệu cấp 1 nếu dịch sang một ngôn ngữ khác thì tài liệu này xem là cấp 2. Từ tài liệu cấp 2 dịch sang ngôn ngữ khác thì đây là tài liệu cấp 3 v.v…
Các bản tài liệu, kinh văn thứ cấp phải căn cứ theo các bản gốc hoặc cấp nhỏ hơn để thẩm định tính chính xác.
Như vậy các bản kinh bằng chữ Sanskrit và chữ Pali, ghi lại từ kim khẩu của Đức Thế Tôn, được xem như các kinh văn cấp 1. Các bản kinh A-hàm chữ Hán dịch từ chữ Sanskrit và bản kinh Nikaya tiếng Việt dịch từ chữ Pali là các kinh cấp 2. Đương nhiên các bản kinh A-hàm tiếng Việt dịch từ bản tiếng Hán là kinh cấp 3 (Sanskrit à A Hàm Hán ngữ à A Hàm Việt ngữ)
Vì vậy hai bản kinh, Nikaya và A-hàm, tuy cùng là tiếng Việt nhưng chúng có các cấp độ khác nhau, chúng không thể so sánh tương đương; trái lại phải căn cứ vào bản Nikaya Việt để đối chiếu, xác định mức độ chuẩn xác của bản A-hàm Việt, từ đó mới có thể phát hiện những dị biệt có ý nghĩa xuyên tạc, phá hoại.
Dựa theo các bản kinh Nikaya Việt ngữ cấp 2 do HT Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Pali và các bản kinh A-hàm Việt ngữ cấp 3 do TT Tuệ Sĩ dịch từ bản tiếng Hán của Phật Ðà Da Xá và Trúc Phật Niệm, xin trích dẫn ra đây một số dẫn chứng tiêu biểu, trong hàng ngàn chứng cứ, để thấy rõ hơn âm mưu, thủ đoạn của các dịch giả gián điệp gốc Bà-la-môn.
卐
] Kinh Nikaya
-- Kinh Đại Bát Niết-bàn, Trường Bộ 1, trang 545:
“Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả Bẩy Pháp Bất Thối Chuyển. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận
- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời”.
! Kinh A-Hàm tương đương
-- Kinh Du Hành, Trường A-hàm:
“Bấy giờ, đại thần Vũ-xá liền bạch Phật:
“Nhân dân nước kia nếu thi hành có một điều còn không mong gì thắng họ, huống nay họ đủ cả bảy điều. Vì việc nước quá bận, con xin từ tạ trở về.”
Phật nói: “Nên biết thời giờ.”
{
Lời bình:
Hai đoạn kinh trích dẫn ở trên thuộc phần mở đầu của hai bản kinh tương đương: “Đại Bát Niết-bàn” của Trường bộ Pali và kinh “Du Hành” của Trường A Hàm.
Ngay cả việc đổi tên kinh cũng là một thâm ý nham hiểm của các luận sư gián điệp. Thật vậy, như nhiều người biết “Đại Bát Niết-bàn” là bản kinh ghi lại những sự kiện, những lời dạy cuối cùng của Đức Thế Tôn, vì thế bản kinh này rất đặc biệt, dễ khiến mọi người phải chú ý và phải thọ trì cẩn thận hơn, nhờ vậy mới nhận thức được những ý nghĩa rất quan trọng trong bản kinh này.
Thế nhưng từ bản kinh “Đại Bát Niết-bàn” biến thành “Du Hành”, tự khắc nó đã làm giảm đi sự chú ý của người đọc và đồng thời mở đường cho một bản kinh “Đại Bát Niết-bàn” mới, với đầy những khác biệt và thâm ý phá hoại. Việc đưa ra ánh sáng những phá hoại này đòi hỏi một công trình so sánh dài hơn. Xin để dành Pháp sự này cho các vị có tâm huyết với Đạo Phật. Ở đây, chỉ nêu vài ý kiến sơ khởi.
Ngay trong phần đầu kinh “Đại Bát Niết-bàn” Pali, kể lại sự kiện Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha được vua A Xà Thế phái đến hỏi Đức Thế Tôn về việc tấn công dân thành Vajji hùng mạnh. Đức Thế Tôn không muốn xảy ra chiến tranh giữa hai đất nước, nên đã tế nhị khuyên ngăn bằng việc nêu lên những pháp ưu việt của dân thành Vajji.
Nhưng Bà-la-môn Vassakara đã bộc lộ ngay bản chất thâm độc của mình bằng kế sách “ngoại giao và ly gián” để đánh bại dân Vajji.
Ngay khi Bà-la-môn Vassakara cáo lui, Đức Thế Tôn đã tức khắc cho triệu tập chúng Tăng để răn dạy về Bẩy Pháp Bất Thối Chuyển, tức bảy yếu tố giúp Tăng đoàn không bị thối chuyển, trong đó nhấn mạnh đến sự đoàn kết trong chúng Tỳ-kheo. Tất nhiên Bậc Thầy Trời Người thừa biết Bà-la-môn Vassakara và con cháu ông ta “có nhiều việc và có nhiều bổn phận” phải làm gì đối với một giáo đoàn hùng mạnh đã lấn át cả đạo Bà-la-môn của Vassakara.
Thế nhưng chi tiết quan trọng này đã bị “ai đó” lược bỏ trong bản kinh Du Hành – A Hàm, và đại thần Vũ Xá, tức Bà-la-môn Vassakara, trở thành vị tôi trung với “việc nước quá bận” chứ không có thâm ý gì khác (!)
Chính vì vậy, những người thọ trì kinh A Hàm ở phương Bắc đã không nhận thức được bài học quan trọng mà kinh “Đại Bát Niết-bàn” đã nhắc nhở: đó là âm mưu thâm độc của Bà-la-môn. Cho nên họ đã không biết cảnh giác trước các con cháu của Bà-la-môn Vassakara, đã tin liền các luận sư Bà-la-môn sau này.
Những người con Phật đều “Phật giáo từ trong bụng mẹ” nên chủ quan nghĩ rằng những ông luận sư Bà-la-môn ngoại đạo như Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước… cũng giống như họ, nghe xong vài câu của Phật là quy y Phật giáo tức thì (?!) Thế nên các ông Bà-la-môn ngoại đạo chỉ cần cạo trọc đầu, đắp lên chiếc y, tự xưng Tổ, xưng Thánh là những người con Phật tin ngay tức khắc, không cần suy xét.
Các Bồ-tát-Bà-la-môn dạy “Phật giáo đa phương, đa diện”, thế là các Phật tử tin ngay Phật giáo phải lắm tông nhiều phái: Bắc Tông, Nam Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Mật Tông, Pháp Hoa Tông, Hoa Nghiêm Tông… để rồi nhắm mắt rơi vào cái bẫy “ngoại giao và ly gián” của đám con cháu Bà-la-môn Vassakara.
Các Tổ sư gián điệp chỉ cần hoang truyền các “ngài” đã đắc được pháp cao siêu, hoặc xuống được tận Long Cung để thỉnh các kinh đại giáo “Như vầy tôi nghe” thế là các con Phật cúc cung bái lạy, thọ trì, truyền tụng!
Các Tổ sư gốc Bà-la-môn chỉ cần tự xưng danh Thích Phật Giáo, Thích Đại Giáo và thần thánh hóa mình rồi giới thiệu và dạy rằng các kinh-luật-luận đời mới còn cao siêu hơn kinh-luật gốc, thế là tất cả hè nhau tin ngay “tám vạn bốn ngàn” pháp-luật trái đạo của họ, quay lại khinh thường Kinh thật, Thánh thật, ngấm ngầm hơn thua với nhau.
Chỉ so sánh hai đoạn kinh ngắn nêu trên cũng nói lên bao điều, huống hồ là cả một tạng A Hàm dày cộm. Thế nhưng cả một tạng kinh gốc bằng chữ Sanskrit đã bị biến mất hoàn toàn, thay vào đó là cả một đống những kinh-luật-luận ngụy tạo trái ngược hoàn toàn với kinh-luật Pali gốc.
Nhiều người con Phật chỉ cần nhận thức rõ sự khác biệt giữa kinh giả và kinh thật như trên thôi, cũng tránh được khỏi địa ngục vì tà kiến, thoát khỏi những vực thẳm đọa xứ, tạo nên bởi những kẻ ngoại học thâm hiểm như Bà-la-môn Vassakara và con cháu của ông ta. Mong rằng những nhận thức trên sẽ sớm được mọi người ý thức và thọ trì.
____________
] Kinh Nikaya
-- Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt, Trung Bộ 3, số 136:
“Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi trú tại một cái cốc trong rừng. Rồi du sĩ ngoại đạo Potaliputta tiêu dao tản bộ, tuần tự du hành, đi đến Tôn giả Samiddhi; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Samiddhi những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Potaliputta thưa với Tôn giả Samiddhi:
- Này Hiền giả Samiddhi, trước mặt Thế Tôn, tôi tự thân nghe, tự thân ghi nhận như sau: "Hư vọng là thân nghiệp, hư vọng là khẩu nghiệp, chỉ có ý nghiệp là chân thật. Và có một Thiền chứng (samapatti), do thành tựu Thiền chứng này, sẽ không có cảm giác gì".
- Này Hiền giả Potaliputta, chớ có nói vậy. Này Hiền giả Potaliputta, chớ có nói vậy. Chớ có phỉ báng Thế Tôn; phỉ báng Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy: "Hư vọng là thân nghiệp, hư vọng là khẩu nghiệp, chỉ có ý nghiệp là chân thật". Và Hiền giả, có một Thiền Chứng, do thành tựu thiền chứng này, sẽ không có cảm giác gì...
Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, Ta chưa từng thấy du sĩ ngoại đạo Potaliputta, thời câu chuyện này từ đây xảy ra? Này Ananda, câu hỏi đáng lý phải trả lời phân tích rõ ràng cho du sĩ ngoại đạo Potaliputta, lại được kẻ ngu si Samiddhi này trả lời theo một chiều”.
! Kinh A-Hàm tương đương
-- Kinh Phân Biệt Đại Nghiệp, số 171.
“Tôn giả A-nan thưa:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sẽ tự nghe hết câu chuyện”.
“Rồi thì Tôn giả Đại Châu-na thuật lại đầu đuôi cuộc đối thoại giữa Tôn giả Tam-di-đề và dị học Bộ-la-đà Tử cho Phật nghe. Nghe xong, Thế Tôn bảo rằng:
“Này A-nan, hãy xem Tỳ-kheo Tam-di-đề người si, không đạo lý gì. Vì sao? Vấn đề dị Bộ-la-đà Tử hỏi là bất định mà Tỳ-kheo Tam-di-đề, người ngu si kia chỉ trả lời theo nhất hướng đáp”
{
Lời bình:
- Theo chánh kinh Pāli, rõ ràng là Đức Thế Tôn chưa từng gặp Potaliputta, thế nhưng du sĩ ngoại đạo này vẫn ngang nhiên bịa chuyện chính mình được như vầy tôi nghe, “trước mặt Thế Tôn, tôi tự thân nghe, tự thân ghi nhận như sau” để xuyên tạc chánh pháp, phổ biến tà pháp nhằm lừa gạt đệ tử Phật. Sự kiện này đã diễn ra ngay khi Phật còn tại tiền, ngay nơi Phật đang du hóa.
Thế nhưng trong các bản kinh A-hàm đã lược bỏ những sự kiện quan trọng này. Nói “các bản kinh A Hàm” vì đây không phải là trường hợp duy nhất, trái lại hầu hết các sự việc ngoại học giả danh Đức Phật để xuyên tạc Phật Pháp, phá hoại Tam Bảo có trong các bài kinh Pali đều đã bị xóa bỏ trong các bản A Hàm tương đương.
Chính thủ đoạn thâm độc này đã góp phần khiến cho các Phật tử mất cảnh giác trước các tà sư gián điệp và dễ dàng chấp nhận các tà kinh-luật-luận của họ để rồi dẫn đến tình cảnh tự hủy hoại chính mình và hủy hoại luôn Chánh Phật Pháp một cách vô ý thức.
Các tà sư ngoại học sau này chỉ cần cạo trọc đầu, đắp vào tấm y, mạo xưng “Thánh Tăng A La Hán, Bồ-tát Đại Thừa” là tức khắc có biết bao các Phật tử tin ngay họ liền.
Các tà sư gián điệp chỉ cần chua vài chữ “Tôi nghe như vầy” vào các tà kinh ngụy tạo thế là các con Phật nhắm mắt tin ngay nó là kinh của Phật, lời của Phật.
Các gián điệp chỉ cần vẽ vời vài câu chuyện từ trên trời, thế là những người con Phật đời sau tin ngay răm rắp pháp “Vi Diệu” của họ mới thực cao siêu vi diệu, còn Chánh Kinh – Chánh Pháp chỉ là thường pháp, là tục đế, không phải chân nghĩa đế, Kinh là để dụ người, Luật là để trói người… (sic!)
Vì tin theo tà nhân nên xem thường Chánh Nhân, vì tin theo tà kinh nên bỏ lờ Chánh Kinh, vì tin theo tà pháp nên phủ định cả Chánh Pháp để rồi ôm giữ tà kiến, trở thành đệ tử của tà đạo mà cứ tưởng là chánh đạo của Đức Thế Tôn.
Hỡi ôi! Địa ngục không tha những kẻ ác nhân lẫn những người ngây thơ tin lầm tín bậy. Khốn khổ thay, sanh thú nguy hiểm đã được chính Đức Thế Tôn khuyến cáo rất nhiều lần: số người được tái sanh đi lên ít như hai sừng bò, còn số người hạ sanh đọa xứ nhiều như lông bò rừng. Bởi lẽ “Vô minh là nguyên nhân gây ra đau khổ”, và “mang tà kiến chỉ có hai sanh thú: địa ngục hoặc súc sanh”.
Trong thực tế, số Phật tử biết tin và thực hành theo đúng lời Phật Thích Ca dạy thì ít như hai sừng bò; nhưng số đông còn lại nhắm mắt tin vào Phật giả, Bụt dỏm, Bồ-tát rởm do các Tổ sư gián điệp ngụy tạo thì nhiều như lông bò rừng! Vì lông bò rừng nhiều phải chở bằng cỗ xe lớn, lông bò rừng ít phải chở bằng cỗ xe nhỏ. Còn hai sừng bò ở trong Viện Bảo Tàng quên lãng.
Hỡi những kẻ ngây thơ cả tin còn đang mơ ngủ, hãy mau mau tỉnh thức trở về nguồn với Chánh Kinh Nikaya và Chánh Luật Patimokkha để may ra còn kịp có phước duyên cứu rỗi chính mình, được thượng sanh giải thoát!
Con Phật ơi, tỉnh mau kẻo trễ!!!
_____________
] Kinh Nikaya
-- Đại Kinh Đoạn Tận Ái, Trung Bộ 1, trang 582, xb 1992:
“Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đã sinh, người mẹ nuôi hài nhi ấy với máu của mình. Này các Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là máu”.
! Kinh A-Hàm tương đương
-- Kinh Trà Đế, số 201, Trung A-hàm tập 4, trang 471, xb 1992:
“Thai mẹ kéo dài chín tháng hay mười tháng rồi sanh. Sau rồi được nuôi dưỡng bằng máu. Máu đó ở trong Thánh pháp gọi là sữa mẹ”.
{
Lời bình:
- Miễn bình luận! Chỉ ráng nhắn vài lời:
Ai không hiểu hãy đi hỏi những bậc “đại nhân” hiểu được kinh đại giáo cao siêu được kết tập từ Long Cung siêu việt, hoặc hỏi các vị luận sư Vi Diệu Pháp, những người đang tin rằng mình thọ trì được pháp diệu siêu vi từ cung trời Đao Lợi!!!
Hỏi để may ra có vị nào trong số các ngài xem lại pháp mà các ngài đang tin tưởng có phải là “Thánh pháp” của các tổ sư gốc Bà-la-môn giả danh kết tập A-hàm hay không!? Vậy thôi!
] Kinh Nikaya
-- Kinh Kannakatthala, Trung Bộ 2:
“Rồi vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con có nghe như sau: "Sa-môn Gotama có nói: "Không có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể tự cho là chứng được tri kiến viên mãn; sự tình như vậy không thể xảy ra". Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama có nói: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến có thể cho là chứng được tri kiến viên mãn; sự tình như vậy không thể xảy ra", bạch Thế Tôn, có phải những vị ấy nói lời Thế Tôn nói, họ không xuyên tạc Thế Tôn, không đúng như thật; họ giải thích pháp đúng pháp và những ai nói hợp pháp, đúng pháp sẽ không có cơ hội để chỉ trích hay không?
- Thưa Ðại vương, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama có nói: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể cho là chứng được tri kiến viên mãn; sự tình như vậy không thể xảy ra", những vị nói như vậy không nói đúng lời Ta nói, và họ xuyên tạc Ta một cách hư ngụy, không đúng sự thật.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với tướng quân Vidudabha:
-- Này Tướng quân, ai đã đem vấn đề này vào trong nội cung?
-- Tâu Ðại vương, Bà-la-môn Sanjaya, thuộc dòng họ Akasa.
...-- Thưa Ðại vương, Ta tự xem là đã nói những lời như sau: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể trong một lúc, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn, không thể có sự tình như vậy”.
! Kinh A-Hàm tương đương
-- Kinh Nhất Thiết trí, số 212.
“... Sau khi người sứ giả đi rồi, Đức Thế Tôn quay lại bảo rằng:
“Này A-nan, ông cùng Ta sang ngôi nhà lớn hướng phía Đông, mở cửa sổ ra và đóng cửa lớn lại, vào trong chỗ kín đáo ấy. Hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, nhất tâm, không loạn động, muốn nghe và thọ lãnh Chánh pháp.”
...Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi rằng:
“Bạch Cù-đàm, con nghe Sa-môn Cù-đàm nói như vầy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không, và hiện tại cũng không có, không có Sa-môn Phạm chí nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến’. Bạch Cù-đàm, Ngài đã nhớ là đã nói như vậy chăng?
Thế Tôn đáp rằng:
“Này Đại vương, Ta không nhớ là đã nói như vậy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, và hiện tại không có, không có Sa-môn Phạm chí nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến’.”
{
Lời bình
- Một đàng vua Pasenadi nghe kẻ khác nói lại lời Phật, còn một đàng Ba-tư-nặc nghe từ chính “Bụt A Hàm” là hai ngữ cảnh hoàn toàn khác nhau, có những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
- Một đàng Đức Thế Tôn khẳng định sự xuyên tạc hư ngụy của kẻ khác đối với lời nói của Ngài, một đàng “Bụt A Hàm” không nhớ đã có nói hay không (?). Xin hỏi các “Như Lai sứ giả”: chi tiết cải biến trong kinh A-hàm có ý đồ gì?
- Liệu có chăng sự kiện một bậc Túc Mạng Minh nhớ hàng vô số kiếp về trước, thuyết giảng những bài kinh dài hàng trăm trang với những phân tích rõ ràng cụ thể, với hàng trăm chi tiết thứ tự không thiếu sót lại không nhớ một câu mà người khác nhắc? Sự cải biên cố tình này có thâm ý gì?
- Có thể chăng sự kiện một đấng Đạo sư Minh Hạnh Túc luôn nêu gương quang minh chính đại, đã ban giới luật cấm Tỳ-kheo vào thâm cung hoặc chỗ riêng tư của vua lại vẽ chuyện tiếp vua “trong chỗ kín đáo”? Rõ ràng kẻ biên dịch cố tình thêm thắt chi tiết này là nhằm bôi nhọ vị Thầy Trời Người một cách nham hiểm.
Muốn biết thêm nhiều cải biên thâm độc khác nữa, xin mời đọc “So sánh Chánh Kinh Trung Bộ Pali và Tà kinh Trung A Hàm” của Kinh Sư Chánh Tư Duy sẽ rõ.
______________________
Chú thích: Các trích dẫn dựa theo bản dịch tiếng Việt kinh Nikaya của HT Thích Minh Châu, kinh A Hàm của Thượng Toạ Tuệ Sĩ.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







