Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

THÁNH TĂNG DẠY TRONG CHÁNH KINH. MA TĂNG DẠY TRONG TÀ KINH


Cùng là hai bài kinh tương đương trong Pali và A Hàm nhưng có sự cải biên hoàn toàn khác nhau. Phân tích so sánh sau đây sẽ nêu cụ thể

PHÂN TÍCH SO SÁNH
Chánh Kinh "Giáo Giới Cấp Cô Độc" <số143, Trung Bộ Pali> & Tà kinh "Giáo Hóa Bịnh" <số 28, Trung A Hàm>
Chánh kinh Pāli: “Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh…
… Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.”
Tà kinh A Hàm: Tôi nghe như vầy: Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc. Bấy giờ Trưởng giả Cấp Cô Độc mang bệnh hiểm nghèo…
Sau khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lê Tử khoác y, ôm bát đi đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc thấy Tôn giả Xá-lê Tử từ đàng xa đi đến, muốn từ giường ngồi dậy. Tôn giả Xá-lê Tử thấy Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn từ giường ngồi dậy, liền cản lại rằng: “Này Trưởng giả, chớ ngồi dậy. Còn giường khác đây, tôi sẽ ngồi riêng”.
Tôn giả Xá-lê Tử liền ngồi lên giường ấy, rồi hỏi rằng: “Bệnh trạng của Trưởng giả hôm nay thế nào? Ăn uống được nhiều ít? Sự đau đớn giảm dần không đến nỗi tăng thêm chăng?”
Trưởng giả Cấp Cô Độc trả lời rằng: “Bệnh tình của con rất nguy kịch, ăn uống chẳng được gì cả. Sự đau đớn chỉ tăng thêm chứ không thấy giảm bớt chút nào”.
Tôn giả Xá-lê Tử bảo rằng: “Này Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si, thành tựu bất tín, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả ngày nay không hề có sự bất tín, mà chỉ có sự thượng tín. Do thượng tín ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thượng tín ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.”
Phân tích: Cả hai bài kinh trên là những lời dạy của ngài Xá-lợi-phất dành cho ông Cấp Cô Độc lúc bị trọng bệnh, nhưng có nhiều sự sai khác.
- Sự sai khác vô lý trước nhất trong A Hàm được lập đi lập lại nhiều lần “Phật du hóa tại ... vườn Cấp cô độc như muốn thách thức trí tuệ thẩm sát của những ai thọ trì kinh A Hàm. Thảm thương thay nó vẫn an nhiên tồn tại qua biết bao thế kỷ không một lời cảnh báo, không một ai cải chính.
- Cũng theo A Hàm, ông Cấp Cô Độc thấy tôn giả Xá-lê Tử “từ đàng xa đi đến” muốn ngồi dậy, có nghĩa là Xá-lê Tử vẫn còn ở… cách xa Cấp Cô Độc, ấy vậy mà liền ngay đó câu kế tiếp Xá-lê Tử thấy và cản liền (?) Có hai khả năng: Một là tôn giả Xá-lê Tử dùng thần thông rút đất, hiện liền ngay trước mặt Cấp Cô Độc; hai là mấy ông dịch giả cố tình khiến A Hàm trở thành kinh … ba láp ba sàm. Nghĩ như thế nào tùy người đọc.
- Lần trước Xá-lê Tử A Hàm thăm bệnh ông bạn thân Phạm chí Đà Nhiên (kinh số 27) né sang ngồi giường khác, lần này thăm ông Cấp Cô Độc mang bệnh hiểm nghèo cũng phải ngồi riêng. Chắc Xá-lê Tử sợ lây bệnh, ghê tởm mấy người bệnh chăng? Kiểu cách này của ông Xá-lê Tử A Hàm không xứng danh Tướng Quân Chánh Pháp của đạo từ bi rồi. Nhưng trong Pāli Ngài đâu có tầm thường như thế.
- Xá-lê Tử A Hàm nói dóc quá, trong khi ông Cấp Cô Độc còn đang rên rỉ: “Bệnh tình của con rất nguy kịch, ăn uống chẳng được gì cả. Sự đau đớn chỉ tăng thêm chứ không thấy giảm bớt chút nào”, thì ngài lại phán: “Do thượng tín ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng” (?)
Thế ra trước đó do ông Cấp Cô Độc không tin Phật nên mới khốn khổ như vậy chăng? Mấy người không tin Phật, đọc tới đây chắc phải phì cười hỏi liền: “Ai nhờ thượng tín mà diệt được đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng hãy lên tiếng và… chịu nhận 100 hèo của chúng tôi để chứng minh”
Còn những người có trí và hiểu Phật pháp cũng cười phì tự nhủ: “Chẳng lẽ chỉ nhờ lòng tin thôi là đạt được thánh quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàmsao? Quả thánh kiểu gì lại dễ dàng như vậy? Ngài Xá-lê Tử chắc cũng là gián điệp ngoại học rồi!”
***
Chánh kinh Pāli: “Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.”
Tà kinh A Hàm: “Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si do ác giới, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có ác giới, mà Trưởng giả chỉ có thiện giới. Do thiện giới ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thiện giới ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.”
Phân tích: - Trong chánh kinh Pāli, ngài Xá-lợi-phất chỉ dạy cư sĩ Cấp Cô Độc không nên chấp thủ các pháp không nên chấp thủ, vì trong khi bệnh hoạn những chấp thủ này sẽ khiến mình đau khổ nhiều hơn, bệnh tình nặng hơn; ngược lại xả bỏ càng nhiều những chấp thủ có hại càng giúp giải thoát khổ đau, càng giúp thân tâm nhẹ nhàng, thậm chí thân có thể đau nhưng tâm không đau, thân có thể bệnh nhưng tâm không bệnh.
Ngược lại trong A Hàm lời tôn giả Xá-lê Tử rất phi lý. Những ai đã giữ thiện giới và từng bị bệnh hẳn không thể một chiều chấp nhận lời của ông Á-lê Tử A Hàm. Tất nhiên ông Cấp Cô Độc nghe xong cũng muốn bịnh thêm, cho nên bài kinh có tựa đề “Giáo hóa (nên) bịnh” là vì vậy. Các dịch gia A Hàm và những người thọ trì mắc tâm bịnh cả rồi nên mới không thấy rõ!
***
Chánh kinh Pāli: “(Không có đoạn tương đương. Chính trong bản A Hàm tiếng Việt, chú thích số 5 có ghi rõ: “Nội dung bài thuyết pháp sau đây không đồng nhất với bản Pāli tương đương”)    
Tà kinh A Hàm: “Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si không có đa văn, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có sự không đa văn. Do đa văn ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùnghoặc do đa văn ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
… Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có sự xan tham, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có xan tham mà chỉ có huệ thí. Do huệ thí ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do huệ thí ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.”
Phân tích: - Những ai đã từng nhờ đa văn và huệ thí mà diệt được “đau nhức khổ sở” xin lên tiếng và xin chấp nhận 100 roi để chứng minh cụ thể có đa văn huệ thí đã giúp “khoái lạc vô cùng” như thế nào?
Một người không đa văn, không huệ thí nhưng biết thân hành thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện khi chết cũng đi thẳng đến ác xứ địa ngục ưSàm! Ngược lại một kẻ đa văn và huệ thí nhưng thân làm ác, miệng nói láo, ý nghĩ tà kiến chết chứng thánh quả ư? Phi lý!
- Một kẻ đa văn, có huệ thí nhưng phá giới và tà hạnh cũng chứng quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàm ư? Ông Xá-lê Tử A Hàm dạy gì kỳ vậy?
Chỉ cần vài câu hỏi trên cũng đủ thấy rõ A Hàm đã bị các ông dịch giả Bà-la-môn xuyên tạc phá hoại đến tận cùng.
***
Chánh kinh Pāli: “Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Ðộc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ānanda nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc: -- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?
-- Thưa Tôn giả Ānanda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Ðạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu con đã từng gần gũi các vị Tỷ-kheo tu tập ý lực, con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.”
Tà kinh A Hàm: “Bấy giờ bệnh trạng của Trưởng giả Cấp Cô Độc liền được thuyên giảm, bình phục như cũ [7] từ chỗ nằm ngồi dậy, khen Tôn giả Xá-lê Tử rằng:…”
Phân tích: Theo Chánh kinh Tương Ưng Pāli, bài kinh Ác Giới, hay Anāthapiṇḍika (1) (S.v,380) ông cư sĩ Cấp Đô Độc cũng được khỏi bệnh, thế nhưng trường hợp này hoàn toàn khác với sự cải biên vô lý của A Hàm.
Trong chú thích số 7 của bản A Hàm tiếng Việt có ghi rõ: “Bản Pāli, sau đó, khi Sāriputta đi khỏi, Trưởng giả Cấp Cô Độc mạng chung”. Còn trong A Hàm, ông Cấp Cô Độc chỉ cần nghe mấy lời vọng ngữ thái quá của Xá-lê Tử là khỏe liền, điều này càng khiến người đọc cảnh giác, càng cảnh giác càng thấy rõ “kinh A Hàm” là kinh... ba sàm ba sạo!
Ai tin A Hàm hãy đọc những lời của tôn giả Xá-lê Tử A Hàm dạy cho những người bệnh để xem họ có thuyên giảm và bình phục như cũ được không? Nếu không, hãy cẩn trọng suy ngẫm kỹ lời Phật dạy trong nguyên thủy Pāli, và phải luôn nhớ rằng chớ có tin cho dù đó là kinh điển hay truyền thống từ các Bà-la-môn gián điệp truyền trao.
BUDDHISM MAGAZINE

KHÔNG PHẢI 'THÀY' NÀO CŨNG NÓI ĐÚNG PHÁP!!!

Bác Hai Lúa than thở với chú Tư Ưu Bà Tắc:
_ Tui làm nông nghiệp phải cày bừa, phun thuốc trừ sâu, diệt côn trùng giữ lúa. Thế nhưng thầy trụ trì nói sát sanh là có tội và khuyên mình chuyển nghề. Tui từ lúc cha sanh mẹ đẻ đến giờ chỉ biết có ruộng đồng, chẳng biết gì khác. Mình lo quá, không biết tính sao?
Chú Tư lớn tiếng:
_ Nếu tất cả mọi nông dân đều bỏ nghề, con người lấy gì ăn để sống? Vị trụ trì của bác còn sống lấy gì ăn?
_ Thầy trụ trì nói rằng để mấy người muốn lãnh nghiệp sát sanh họ làm tiếp.
_ Trời đất, phán như vậy đâu có được. Người ta cực nhọc nuôi bản thân, gia đình và mọi người thì bị lãnh nghiệp, còn mình phơi phơi lại được hưởng phước, liệu có bất công không?
_ Vậy theo chú tính sao?
_ Thầy bổn sư của tui dạy rằng tuy sát sanh côn trùng cũng có tội, nhưng người nông dân có công tạo ra lương thực nuôi sống con người, vì vậy cũng phải tính cả phước cho họ mới công bằng hợp lý. Con người có phước nhiều hơn côn trùng, cho nên góp phần nuôi sống con người thì phước cũng lớn lắm. Tất nhiên dùng các phương pháp không sát sanh nhưng vẫn bảo vệ cho cây trồng là tốt nhất. Thế nhưng trong trường hợp bất khả kháng và mình thực tâm không ham thích sát sanh nhưng bắt buộc phải giết côn trùng có hại để bảo vệ mùa màng thì xem như nghiệp ác nhỏ, có thể chuyển hóa được.
_ Ừa hén, nói vậy mới phải. Nhưng chuyển hóa nghiệp bằng cách nào?
_ Sư thầy của tui cứ y kinh dạy rằng: một nghiệp ác nhỏ ví như một nắm muối, nếu cho vào chén nước nhỏ, vị mặn không thay đổi, nhưng nếu cho vào hồ nước rộng lớn sẽ bị hòa tan. Chén nước nhỏ là tâm nhỏ hẹp, ích kỷ. Còn hồ nước rộng lớn chính là tâm biết tu tập biến mãn từ bi hỷ xả, bố thí, trì giới.
_ À, tôi hiểu rồi. Giả sử sau mùa vụ tôi để dành được một trăm dạ lúa, tôi trích ra một phần làm từ thiện bố thí cho mấy người già neo đơn, cho mấy em bé mồ côi hoặc cúng dường cho người tu hành chân chánh. Như vậy là tôi đã tạo thêm phước thiện để giải trừ nghiệp bất thiện.
_ Đúng vậy! Ngược lại nếu bác ích kỷ dùng gạo đó nấu rượu, rồi say xỉn tối ngày thì nghiệp ác cộng với hành bất thiện vẫn không chuyển hóa được, trái lại đau khổ còn tăng nhiều hơn nữa.
_ Nói như chú mới hợp tình, hợp lý, hợp nhân quả. Giờ thì tôi yên tâm rồi. Cảm ơn chú.
CHÂN CHÁNH NGHIỆP

THÁNH TỬ ĐẠO HAY ĐẠO TỬ THÁNH?

Trong giờ học về tôn giáo, tất cả các em học sinh đều hào hứng tham gia thảo luận về đề tài “Thánh tử đạo”. Các ý kiến phát biểu được ghi nhận tóm lược như sau:
_ Theo mình, chết vì đạo chưa chắc đã có trí tuệ. Bằng chứng là đã có nhiều kẻ cuồng tín dám ôm bom tự sát cho tín ngưỡng của mình.
_ Không phải chỉ có giết người khác là mang tội sát sanh, tự giết mình cũng vậy.
_ Không biết thương mình nên mới tự giết mình. Không biết thương người nên mới giết người ta.
_ Nêu gương xấu cho người khác, tạo phong trào tự sát tập thể cũng mang tội tuyên truyền cho vô minh tà kiến nữa đấy.
_ Nhưng nếu không dám liều mình quyết tử, thì làm sao bảo vệ được đạo pháp? Có khi cũng phải biết “sát nhất miêu, cứu vạn thử” chứ?
_ Sao không biết “cứu nhất miêu, cứu vạn thử”? Tại sao cứ phải nghĩ rằng chỉ có chết mới bảo vệ cho đạo lý? Còn sống mà vẫn phát triển được đạo pháp, vừa lợi ích cho mình lại vừa hữu ích cho đạo, như thế có hay hơn không, có trí tuệ hơn không?
_ Nói vậy là còn tham sống sợ chết.
_ Thì đã sao? Tham sống cho đạo hẳn là hiền trí hơn phải bị bức tử vì nó. Đạo cao siêu thực sự là phải dạy người ta “biết sống khôn” chứ không phải “dám chết dại”.
_ Cứ ham chết kiểu đó dễ trở thành tay sai cho kẻ khác lắm. Và chỉ có những tâm hồn còn ngây thơ không biết thắng-liệt, thánh-phàm mới vinh danh ca ngợi nó mà thôi.
_ Nhưng không chết một cách đặc biệt, làm sao gây chú ý cho dư luận, làm sao tạo được tiếng vang, làm sao gây ra áp lực để thực hiện mục đích của mình?
_ Một giáo lý hoặc một tập thể cổ vũ cho những người tin theo phải liều chết để bảo vệ hoặc xương minh cho nó nhằm đạt mục đích của riêng mình, liệu có phải là chánh lý không? Có phải là một hội chúng chánh đạo không?
_ Vẫn còn nhiều phương cách hay hơn, vẹn toàn hơn sao không áp dụng? Sao người ta chỉ biết một là phải “chết”, hai là phải “tử”?
_ Vậy mà những biểu tượng ấy vẫn luôn được tuyên dương ca ngợi. Chẳng trách gì người ta cứ đua nhau chết vì đạo, tự tử vì tình hà rầm là vậy. Tớ chẳng dại!
_ Tôi cũng vậy. Mình phải hơn loài thiêu thân chứ! Can đảm mà không có trí tuệ là tà tinh tấn. Đức tin mà không có lý trí là tà tín, mê tín, cuồng tín.
_ Đức Phật đã dạy rồi, ở đời có bốn hạng người: (1) hại mình - hại người, (2) hại mình - lợi người, (3) lợi mình - hại người, (4) không hại mình, không hại người - lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới. Và Ngài cũng chỉ rõ hạng người nào là hiền trí nhất, đạo đức nhất.
_ Đương nhiên là hạng người thứ tư. Sẵn sàng hại mình để làm lợi cho người khác, mấy con cá cắn câu cũng làm được.
_ Này, mình nghe nói có Thánh tử đạo để lại cả thánh vật không bị hủy diệt cho mọi người tin. Còn có cả hình chụp nữa đấy!
_ Xin hỏi bạn: những ai chứng kiến sự việc ấy? Họ có đáng tin cậy không? Nó có được hội đồng giám định khách quan và có uy tín chứng thực, chứng nghiệm không?
_ Vạn vật đều vô thường, có sanh phải có diệt. Chỉ có chuyện lợi dụng tôn giáo, muốn bày trò bịp bợm mới khoe điều ngược lại.
_ Nhưng “Thánh tử” thì phải có “thánh sử”, “thánh vật” khác thường chứ?
_ Dù thánh tổ đến đâu cũng không vượt ngoài thánh lý, chánh lý; trừ phi là... dóc tổ. Chẳng lẽ tôi nói khơi khơi rằng: tối hôm qua tôi và họ hàng nhà tôi đã nướng miếng thịt “Trư bát giới” suốt hai mươi tám tiếng trên lò lửa mà nó vẫn không chín. Rồi để làm bằng chứng tôi bèn đưa tấm hình miếng thịt khác, cứ thế các ông các bà cũng tin ngay à? Cũng sùng bái miếng thịt ấy à?
_ Đúng vậy! Đã có biết bao tin đồn nào là: tượng thần này chảy nước mắt, áo thánh kia thấm linh dược, máu loang khắp bàn thờ v.v... và v.v... Rút cuộc toàn chuyện bịa đặt. Có người nói rất chí lý “tôn giáo là thiên đường của những ông tổ bịp”.
_ Tóm lại, “Thánh tử đạo” thua xa “Thánh sống đạo”. Đạo của các “Thánh tử” không bằng đạo của các “Thánh bất tử”. Bất tử bằng chính cuộc sống thánh thiện hiền trí đại tuệ không hại mình, hại người; lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới.
Cả lớp nhất loạt vỗ tay hoan hô tán đồng lời kết luận.
SINH VIÊN @@@

49 ĐẠI NGUYỆN CỦA CHÚ CUỘI - GIÁO CHỦ CÕI CÂY ĐA XÀ (SAU NÀY CƯU MA LA THẬP CỦA ĐẠI THỪA BẮT CHƯỚC RỒI VẼ RA 48 ĐẠI NGUYỆN CỦA A DI ĐÀ)

Nguyện thứ 1: Lúc tôi thành Cuội, nếu trong cõi Cung Trăng, có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 2: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, sau khi thọ chung, còn trở lại sa vào ba ác đạo, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 3: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, thân chẳng màu vàng tất cả, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 4: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, thân hình có kẻ tốt người xấu chẳng đồng nhau, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 5: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng chẳng có Túc mạng thông, ít nhất là biết rõ những việc trăm nghìn ức na do tha kiếp (vô số kiếp) thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 6: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng đặng Thiên nhãn thông, ít nhất là thấy rõ trăm nghìn ức na do tha thế giới của chư Cuội, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 7: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng được Thiên nhĩ thông, ít nhất là nghe và thọ trì tất cả lời thuyết pháp của trăm nghìn ức na do tha đức Cuội, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 8: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng chẳng được Tha tâm thông, ít nhất là biết rõ những tâm niệm của tất cả chúng sanh, trong trăm nghìn ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 9: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng đặng thần túc thông, khoảng một niệm, ít nhất là đi qua khỏi trăm nghìn ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 10: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, còn có quan niệm tham chấp lấy thân, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 11: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, chẳng trụ định tu, nhẫn đến trọn diệt độ, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 12: Lúc tôi thành Cuội, nếu quang minh còn hữu hạn, ít nhất cũng chiếu thấu trăm nghìn na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 13: Lúc tôi thành Cuội, nếu thọ mạng còn hữu hạn, ít nhất cũng đến trăm nghìn na do tha kiếp, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 14: Lúc tôi thành Cuội, chúng Thanh Văn trong cõi Cung Trăng, nếu có ai tính đếm biết được số bao nhiêu, dầu đó là vô lượng Bích Chi Cuội đồng tính đếm trong trăm nghìn kiếp, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 15: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, thọ mạng còn hữu hạn, trừ người có bổn nguyện riêng, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 16: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, còn có người nghe danh từ bất thiện thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 17: Lúc tôi thành Cuội, nếu vô lượng chư Cuội thập phương thế giới, chẳng đều ngợi khen xưng danh hiệu tôi, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Cuội, thập phương chúng sanh, chí tâm tín mộ, muốn sanh về cõi Cung Trăng, nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ; trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chánh pháp.
Nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Cuội, thập phương chúng sanh phát Bồ đề tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi Cung Trăng, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 20: Lúc tôi thành Cuội, thập phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi Cung Trăng, và tu các công đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về cõi Cung Trăng, nếu chẳng được toại nguyện, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 21: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, tất cả chẳng đủ ba mươi hai tướng đại nhơn, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 22: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở cõi khác sanh về Cung Trăng, cứu cánh đều quyết đến bực Nhứt sanh bổ xứ, trừ người có bổn nguyện riêng, tụ tại hóa hiện, vì chúng sanh mà thoát hoằng thệ nguyện, tu các công đức, độ thoát mọi loài, đi khắp thế giới, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường thập phương chư Cuội, khai hóa vô lượng chúng sinh, làm cho tất cả đều đứng vững nơi đạo vô thượng Dóc Tổ, siêu xuất công hạnh của các bực thông thường, hiện tiền tu tập Đại nguyện của Phổ Hiền, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 23: Lúc tôi thành Cuội, các Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, thừa thần lực của Cuội, mà đi cúng dường thập phương chư Cuội, trong khoảng thời gian một bữa ăn, nếu không đến khắp vô lượng vô số ức na do tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 24: Lúc tôi thành Cuội, các Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, khi ở trước thập phương chư Cuội, hiện công đức của mình, muốn có những vật cúng dường, nếu không có được, tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 25: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, không được Nhứt thiết trí, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 26: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, chẳng đều được thân kim cương Na La Diên, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 27: Lúc tôi thành Cuội, thì trong cõi Cung Trăng, tất cả đồ dùng của nhơn thiên, hình sắc đều sáng đẹp sạch sẽ, rất tột vi diệu, dầu là người được thiên nhãn cũng không có thể tính biết. Nếu có người biết danh số các đồ vật ấy được rõ ràng, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 28: Lúc tôi thành Cuội, nếu Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, dầu là người ít công đức nhứt, chẳng thấy biết được cội cây đạo tràng cao bốn trăm muôn do tuần, vô lượng quang sắc, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 29: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, nếu thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 30: Lúc tôi thành Cuội, nếu có ai hạn lượng được trí tuệ biện tài của Bồ Tát trong cõi Cung Trăng, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 31: Lúc tôi thành Cuội, cõi Cung Trăng thanh tịnh, các nơi đều soi thấy tất cả vô lượng vô số không thể nghĩ bàn thế giới ở mười phương, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng được như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 32: Lúc tôi thành Cuội, trong cõi Cung Trăng từ mặt đất tràn lên đến hư không, lầu nhà cung điện ao nước hoa cây, tất cả vạn vật đều là vô lượng chất báu và trăm nghìn thứ hương, hiệp chung lại mà thành; vạn vật đều xinh đẹp kỳ diệu, mùi thơm xông khắp thập phương thế giới. Bồ Tát các nơi ngửi đến mùi thơm ấy, thời đều tu hạnh của Cuội. Nếu chẳng như thế, tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 33: Lúc tôi thành Cuội, các loài chúng sanh trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, được quang minh của tôi chiếu đến nhẹ nhàng hơn thiên nhơn, nếu chẳng như vậy, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 34: Lúc tôi thành Cuội, các loài chúng sanh tong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu của tôi mà không được vô sanh pháp nhẫn, cùng các môn thâm tổng trì, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 35: Lúc tôi thành Cuội, các người nữ trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, vui mừng tin mến phát Bồ đề tâm, nhàn ghét thân gái. Nếu sau khi mạng chung mà còn làm thân người nữ nữa, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 36: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, vẫn thường tu phạm hạnh, mãi đến thành Cuội. Nếu chẳng được như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 37: Lúc tôi thành Cuội, hàng nhơn thiên trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tin mến tu Bồ Tát hạnh, thời chư Thiên và người đời đều kính trọng người đó. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 38: Lúc tôi thành Cuội, hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng muốn có y phục, thời y phục tốt đúng pháp liền theo tâm niệm của người đó mà đến trên thân. Nếu còn phải cắt may nhuộm giặt, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 39: Lúc tôi thành Cuội, hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng không được sự hưởng thụ vui sướng bằng vị Tỉ Khưu đã dứt hết mọi phiền não, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 40: Lúc tôi thành Cuội, nếu hàng nhơn thiên trong cõi Cung Trăng, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới nghiêm tịnh của chư Cuội ở mười phương, thời liền được thấy rõ cả nơi trong cây báu, đúng theo ý muốn, như thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 41: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó nhẫn đến lúc thành, mà các căn còn thiếu xấu, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 42: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát, ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, thảy đều được giải thoát tam muội. Trụ tam muội đó, trong khoảng thời gian một niệm, cúng dường vô lượng bất tư nghị chư Cuội Thế Tôn, mà vẫn không mất chánh niệm. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 43: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung đều được thác sanh chốn Tôn quí, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 44: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hơn hở, tu Bồ Tát hạnh, trọn đủ công đức, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 45: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, đều đặng Phổ đẳng tam muội, trụ tam muội này mãi đến lúc thành Cuội, thường được thấy Vô lượng bất tư nghị tất cả chư Cuội. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 46: Lúc tôi thành Cuội, chúng Bồ Tát ở trong cõi Cung Trăng, muốn nghe pháp gì, thời liền tự nhiên đặng nghe pháp ấy. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 47: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu tôi mà chẳng được đến bực bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 48: Lúc tôi thành Cuội, nếu chúng Bồ Tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, mà chẳng liền được Đệ nhất âm hưởng nhẫn, ở nơi Cuội pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Dóc Tổ.
Nguyện thứ 49Ai chứng minh được những lời nguyện của Cuội tôi là láo khoét, ba sạo, hứa lèo, hứa cuội; Cuội tôi sẽ gả chị Hằng Nga cho và còn ban 10 Tiên Nữ cõi Cung Quảng Hàm hầu hạ. Cũng như vua Diêu Tần đã ban 10 cung nữ cho ngài Cưu Ma La Thập, một đại sư Đại Thừa vừa là soạn giả, dịch giả và luận giả của cuốn kinh A-di-đà. Còn những ai tin Cuội tôi cứ thực hành theo tất cũng sẽ được như các Tịnh Độ tử của phái A-mi-tò-phò. Bụt A-di-đà đã phát đại nguyện cứu độ chúng sanh, chẳng lẽ Cuội tôi không dám noi gương ngài.
A-di-đà Bụt!
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH LA TO NHƯ CUỘI
----------------------
Ghi chú: Chuyện Cưu Ma La Thập dám nhận và loạn dâm với cả 10 cung nữ từ vua Diêu Tần ban cho dựa theo “Cao Tăng Dị Truyện” và"Tranh Biện”  của Xích Liên xuất bản, 1929 - 1932, quyển Thượng, trang 151–169. Nguồn Internet.
Cưu Ma La Thập (344-413), người Ấn Độ, sống sau Phật 1000 năm, cũng là tác giả của cuốn luận A-di-đà ca ngợi hết lời cho kinh A-di-đà do chính mình giới thiệu và chuyển dịch (?!) Việc vẽ ra một cuốn kinh giả rồi viết thêm một cuốn luận thật nhằm khiến những kẻ ngây thơ tin ngay cuốn kinh giả đó, chuyện này một tên gián điệp hạng bét cũng thừa biết và thừa sức thực hiện, chỉ có những kẻ khờ dại mới không hiểu mà thôi.

ĐIỂM SÁCH "The Literature of the Personalists of Early Buddhism"

Ôn cố tri tân
Kinh Sư
***
Phần phụ lục mục Vô Ngã - Nghiệp - Luân Hồi,
trong trang nhà Người Cư Sĩ
ĐIỂM SÁCH
The Literature of the Personalists of Early Buddhism  
(Văn học của các nhà Nhân thể luận trong Phật giáo Nguyên thủy).

Tác giả Thích Thiện Châu
Trần Tuấn Mẫn đọc
“Tháng 3.1997, viện Nghiên cứu Phật học Việt nam vừa ấn hành tác phẩm Anh ngữ, The Literature of the Personalists of Early Buddhism (Văn học của các nhà Nhân thể luận trong Phật giáo Nguyên thủy). Ðây là bản dịch của Sara Boin-Webb từ nguyên bản Pháp ngữ "La littérature des personnalistes du Bouddhisme Ancien" luận án Tiến sĩ Quốc gia về Văn học và Khoa học Nhân văn do hòa thượng Thích Thiện Châu thực hiện và đệ trình tại đại học Sorbonne Nouvelle (Paris III) năm 1977. (1)
Luận án minh họa, phân tích, nhận định và hệ thống hóa học thuyết Nhân thể luận (Pudgalavàda), một học thuyết xuất hiện khoảng 200 năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn và được phổ biến phát triển suốt hơn 10 thế kỷ. 
Qua đó, khởi từ trường phái Vàtsìputrìya và các trường phái kế tiếp như Sàmmitìya, Dharmottarìya, Bhadrayàniya, Sandàgàrika..., các nhà Nhân thể luận (Pudgalavadin) đã nỗ lực nghiên cứu, trích dẫn từ giáo lý chính thống của đức Phật và đưa ra những quan điểm, những giải thích về sự hiện hữu của một "nhân thể" (pudgala) như một thực thể tồn tại bất biến trong mỗi chúng sanh.
Học thuyết được sự ủng hộ của đông đảo giới học Phật nhưng mặt khác, lại bị chỉ trích, bị phê phán gay gắt từ đông đảo những người khác, nhất là những nhà Thượng tọa bộ (Theravadin) và Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivadin). 
Những người phản bác cho rằng Nhân thể luận trái với tinh thần Vô ngã của Phật giáo, thậm chí có người cho rằng Nhân thể luận làm rối rắm, làm hư hoại giáo lý của đức Phật. 
Ðáp lại những công kích, các nhà Nhân thể luận đã cố gắng chứng minh rằng "Nhân thể" không phải là "Ngã" (Atman) theo như đa số quan niệm rằng "Nhân thể luận" không hề trái nghịch với học thuyết Vô ngã của Phật giáo…” (Hết trích)
Phản biện
Còn sau đây là những lời “chính thống” của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khiển trách Tỳ-kheo Sati khi vị này cũng có ác tà kiến cho rằng THỨC “này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác”, hay nói cách khác như một thực thể tồn tại bất biến trong mỗi chúng sanh”:
“Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì THỨC này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác"?
- Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì THỨC này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.
- Này Sati, thế nào là THỨC ấy?
- Bạch Thế Tôn, chính THỨC ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.
- Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là THỨC do duyên khởi, không có duyên, thì THỨC không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông”. (Đại Kinh Đoạn Tận Ái, Trung Bộ 38)
Và đây là lời Phật dạy cho một Tỳ-kheo khác:
“-- Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?
Thế Tôn đáp:
-- Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: "Thế nào là sanh, và sanh này là của ai?", hay này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: "Sanh là khác và người sanh là khác", hai câu hỏi này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: "Sinh mạng và thân thể là một", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: "Sinh mạng và thân thể là khác", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: "Do duyên hữu nên có sanh…
…Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: "Do duyên vô minh nên có các hành". Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào ... sẽ được đoạn tận." (S.ii,60)
Theo lời dạy trên, khi quan niệm “sinh mạng” hay “linh hồn”, hay “pudgala” là một hay khác với thân thể đều là tà kiến! Và quan niệm này sẽ dẫn đến những tà kiến khác đó là chấp “Ta có tự ngã” hay “Ta không có tự ngã”:
-- “Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: "Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; "Ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn…” (Kinh Tất cả các lậu hoặc, Trung Bộ 1)
Không còn gì rõ ràng hơn lời phân tích dưới đây của Đức Thế Tôn:
-- “Này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã”, như vậy, này Ananda, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.
-- Và này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?”, và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã”, như vậy, này Ananda, là thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.
-- Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngã không?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngã”, như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng: "Tất cả các pháp là vô ngã”?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngã?” và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngã", như vậy, này Ananda, lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa: "Trước đây ta có tự ngã, nay không có tự ngã nữa” (S.iv,400)
Thế nhưng, nếu các nhà “nhân thể luận” còn muốn cố cãi rằng cái “pudgala” của họ không phài là “ngã”, không phải là “vô ngã”, không không phải là “ngã” hay “vô ngã” v.v.. và v.v.. họ hãy nghiền ngẫm kỹ đoạn chánh Kinh sau đây may ra sẽ hiểu:
“Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, vì đần độn ngu si, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: ... Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế…tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây” (Kinh Phạm Võng, Trường Bộ 1).  
KINH SƯ

Xem thêm 


https://phatgiaodoinay.blogspot.com/2016/03/ma-am.html

CÁC TÀ SƯ BÁT NHÃ 'KHÔNG CHỨNG, KHÔNG ĐẮC, KHÔNG DƠ, KHÔNG SẠCH' VÀO ĐÂY MÀ BÀO CHỮA

PHÂN TÍCH SO SÁNH 
HAI BÀI KINH TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG PALI VÀ A HÀM
Đại Kinh Đoạn Tận Ái <số 38, Trung Bộ Pali> & tà kinh "Trà-Đế" <số 201, Trung A Hàm>
Chánh kinh Pāli: “...Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá ở, khi đến xong liền nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá như sau:
-- Này Hiền giả Sati, có đúng sự thật chăng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác".”
Tà kinh A Hàm: “Này Trà-đế, thầy thật có nói như vầy: Tôi biết Đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Ở đây thức này luân chuyển và tái sanh nhưng không đổi khác’ chăng?”
Phân tích: Một đàng Sati trong Pāli hiểu pháp Đức Thế Tôn thuyết giảng như thế nào theo chủ kiến của mình, đây thuộc về vấn đề nhận thức riêng của cá nhân ông ta. Điều này hoàn toàn khác với chuyện Trà-đế A Hàm biết Đức Thế Tôn đã nói pháp như thế nào.
Nếu không tách bạch sự khác biệt này, hẳn sẽ rơi vào bẫy của phù thủy gián điệp. Cẩn thận so sánh các đoạn sau sẽ rõ.
***
Chánh kinh Pāli: (Đức Phật nói với Sati) -- Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.”
Tà kinh A Hàm: “Đức Thế Tôn quở: “Này Trà-đế, do đâu mà ngươi hiểu Ta thuyết pháp như vầy? Người nghe từ miệng người nào mà nói Ta thuyết pháp như vậy? Ngươi là kẻ ngu si. Ta không nói một chiều, ngươi lại nói một chiều chăng? Khi nghe các Tỳ-kheo khiển trách, ngươi bấy giờ phải đúng như pháp mà trả lời. Để Ta hỏi lại các Tỳ-kheo đã.”
Phân tích: Theo Chánh kinh Pāli, Đức Thế Tôn xác định rõ Sati là một kẻ mê mờ, đã không hiểu  đúng lời Ngài dạy.
Ngược lại trong tà kinh A Hàm, Trà Đế có nghe Phật nói, thế nhưng sau đó Bụt lại phủ nhận một cách mơ hồ: “Ta không nói một chiều” (tức là Bụt A Hàm nói hai, ba chiều); và đổ ngược tội cho Trà Đế đã học lại lời ngài theo kiểu một chiều. Cho nên “khi nghe các Tỳ-kheo khiển trách, Trà-đế bấy giờ phải đúng như pháp mà trả lời... hai, ba chiều” chăng?
Rõ ràng chỉ có những ngòi bút gian ngụy mới lươn lẹo hai ba chiều như vậy. Và quả thật, chỉ cần một luận sư gián điệp hữu hiệu cũng nguy hiểm hơn cả một binh đoàn! 
***
Chánh kinh Pāli: “Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sanh vật này không? -- Bạch Thế Tôn, có thấy.
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không? -- Bạch Thế Tôn, có thấy.
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy, do sự đoạn diệt các món ăn ấy, sanh vật ấy cũng bị đoạn diệt không? -- Bạch Thế Tôn, có thấy.”
Tà kinh A Hàm: “Đức Phật nói: “Đây là một chân thể các ngươi có thấy chăng?” Tỳ-kheo đáp: “Bạch Thế Tôn, thấy.”
Đức Thế Tôn nói: “Như Lai là một chân thể, các ngươi có thấy chăng?”. Tỳ-kheo đáp: “Bạch Thế Tôn, thấy.”
Đức Thế Tôn nói: “Khi Như Lai diệt rồi, cái được gọi là chân thể ấy cũng là pháp hủy diệt, các ngươi thấy chăng?” Tỳ-kheo đáp: “Bạch Thế Tôn, thấy.”
Phân tích: Trong kinh Pāli, Đức Phật không tự so sánh mình với sanh vật (hay chân thể?), và dạy rõ thức ăn là duyên sanh, duyên diệt của sanh vật chứ không dạy khi Như Lai diệt thì chân thể cũng diệt như trong Tà kinh A Hàm.
Vả lại, khi mình đang còn sống sờ sờ ra đó lại hỏi đệ tử có thấy “pháp hủy diệt” sau khi mình chết như thế nào, và đệ tử trả lời có thấy là sao? Cả hai có vô lý không?
Hơn nữa, trong chánh kinh Pāli, Đức Thế Tôn không bao giờ trả lời các câu hỏi hư vô thiếu thực tế theo kiểu: “Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết?”
Những ai nói A Hàm không phải là tà kinh, hãy giải thích đoạn kinh… dị trêndùm!
***
Chánh kinh Pāli: “-- Này các Tỷ-kheo, các Ông biết như vậy, thấy như vậy, các Ông có nói như sau: "Bậc Ðạo Sư được chúng ta tôn trọng. Chúng ta nói vì chúng ta tôn trọng bậc Ðạo Sư"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.”
Tà kinh A Hàm: “Lành thay! Lành thay! Nếu các ngươi biết như vậy, thấy như vậy, các ngươi có nói như vầy: ‘Chúng ta cung kính Sa-môn, kính trọng Sa-môn, Sa-môn Cù-đàm là Bậc Tôn Sư của chúng ta chăng?’”
Tỳ-kheo đáp: “Bạch Thế Tôn, không.””
Phân tích: Theo chánh kinh Pāli, các Tỳ-kheo trả lời theo trí tuệ nhận thức khách quan của bản thân họ chứ không trả lời chỉ vì Đức Phật là giáo chủ.
Ngược lại Tà kinh A-hàm “dạy” rõ các Tỳ-kheo đã trả lời Phật rằng họ không có nói như vầy: “Chúng ta cung kính Sa-môn, kính trọng Sa-môn, Sa-môn Cù-đàm là Bậc Tôn Sư của chúng ta” (?)
A Hàm đúng là kinh… khủng rồi chứ còn gì nữa!
***
Chánh kinh Pāli: “Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình:
Ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình.
Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình.
Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.
Rồi này các Tỷ-kheo, người mẹ trong chín hay mười tháng mang bào thai ấy, với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Rồi này các Tỷ-kheo, sau chín hay mười tháng, người mẹ sinh đẻ với sự lo âu lớn đối với gánh nặng ấy. Khi đã sinh, người mẹ nuôi hài nhi ấy với máu của mình. Này các Tỷ-kheo, trong luật của bậc Thánh, sữa của bà mẹ được xem là máu.” 
Tà kinh A Hàm: “Lại nữa, có ba sự kiện hội hợp để thác vào thai mẹ. Đó là cha mẹ tụ tập tại một chỗ, người mẹ trong thời kỳ có thể thọ thai, và hương ấm đã đến. Do ba sự kiện này hợp hội mà thác vào thai mẹ. Thai mẹ kéo dài chín tháng hay mười tháng rồi sanh. Sau rồi được nuôi dưỡng bằng máu. Máu đó ở trong Thánh pháp gọi là sữa mẹ.”
Phân tích: Giữa “giao hợp” và “tụ tập tại một chỗ” hoàn toàn khác nhau, thọ thai trong trường hợp nào mới có lý? Đã thế “cha mẹ tụ tập một chỗ” mà có chuyện “thác vào thai mẹ” thì quả là điều khôi hài ngớ ngẩn.
Theo Chánh kinh Pāli hình ảnh “sữa của bà mẹ được xem là máu” cao đẹp, thiêng liêng bao nhiêu, thì sự cải biên của A Hàm kinh tởm bấy nhiêu.
Vì nó quá kinh tởm nên phải để dành phần bình luận cho những ai “vô phân biệt, không dơ, không sạch, không trí, không đắc” giải thích. Nhờ vậy may ra họ mới có thể nhận ra kinh A Hàm thật sự là loại kinh giả, kinh dị, kinh hoàng, kinh sợ đến như thế nào!
***
Chánh kinh Pāli: “Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.”
Tà kinh A Hàm: “Này Tỳ-kheo, như vậy há không phải là đầy đủ để sự tương tục trói buộc bởi ái như Tỳ-kheo Trà-đế Kê-hòa-đa Tử chăng?” Tỳ-kheo đáp: “Bạch Thế Tôn, như vậy là đầy đủ để sự tương tục bị trói buộc bởi ái như Tỳ-kheo Trà-đế Kê-hòa-đa Tử.”
Phân tích: Theo chánh kinh Pāli, trước sau lời dạy của Phật đều rõ ràng nhất quán. Tỳ-kheo Sati vì còn ái luyến tà pháp trước kia của mình, nên nay vẫn còn chấp thủ tà kiến xưa cũ ấy, và vì thế ông đã hiểu sai lạc lời dạy của Đức Thế Tôn.
Ngược lại, theo A Hàm, thầy trò Gotama rất mâu thuẫn. Trong khi ở đầu bài kinh Bụt và các Tỳ-kheo A Hàm phủ nhận, không chấp nhận nhận thức của Trà-đế Kê-hòa-đa Tử “thức này luân chuyển và tái sanh, nhưng không đổi khác”, thế nhưng cuối cùng lại đồng ý rằng “như vậy là đầy đủ để sự tương tục bị trói buộc bởi ái như Tỳ-kheo Trà-đế Kê-hòa-đa Tử” đã nghĩ (?)
Các đệ tử Phật sau này cũng giống như Tỳ-kheo Sati. Nhiều người cũng chấp chặt vào những tà kinh tà luật của các tổ sư gián điệp, cho nên họ cũng tin rằng phải có linh hồn để tái sanh, hay tin vào cái ‘pudgala’ “như một thực thể tồn tại bất biến trong mỗi chúng sanh” (Phái Nhân Thể Luận)... Hẳn nhiên họ cũng phải bị Đức Phật quở trách là những kẻ mê mờ như Tỳ-kheo Sati mà thôi!
PHẬT HỌC CAO CẤP

THÂM KẾ 'NGOẠI GIAO VÀ LY GIÁN'


Kinh Tăng Chi tập 3, Chương 7, III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ), (II) (20) Vassakàra (trang 305)
“4. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp không bị suy giảm này, thời dân Vajjì nhất định được lớn mạnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ các bảy pháp không bị suy giảm. Thưa Tôn giả Gotama, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận, trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Thưa Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận”.
{ Ghi chú: Kế ngoại giao là giả kết thân để đối phương không nghi ngờ, rồi tìm cách phá hoại. Kế sách này giống như kế gián điệp: giả dạng làm người của đối phương rồi gây hại, gây chia rẽ địch thủ từ bên trong.
Ngay thời Phật, Bà-la-môn Vassakàra đã biết gian kế này, chẳng lẽ các luận sư Bà-la-môn đời sau lại không biết? 
Ngay trong Chánh Kinh và Chánh Luật còn ghi lại, Bà-la-môn Vassakàra đã có những kiểu chống phá ngấm ngầm Tam Bảo rất thâm độc, chẳng lẽ con cháu sau này của Bà-la-môn giáo lại không? 
Hẳn chỉ có sự cả tin và ngây thơ mới dám tin liền các luận sư Bà-la-môn hậu bối!
CHÁNH NHÂN