Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

Quá khứ có truy tìm?


Nam Tào và Bắc Đẩu ngồi đàm đạo với nhau. Bắc Đẩu đặt vấn đề:
_ Thưa Nam Tào, dưới dương trần có một Atula dám phủ nhận cả tạng Kinh Tiền Thân Đức Phật. Atula ấy nói tạng kinh này do người đời sau thêm vào, chứ Đức Phật không có nói chuyện tiền thân.
Nam Tào thở phì phì:
_ Atula ấy sống sau Phật cả ngàn năm, dựa vào đâu lại nói như thế?
_ Atula ấy bảo trong bài kinh Nhất Dạ Hiền Giả, chính Đức Phật đã dạy “Quá khứ không truy tìm”. Phật đã dạy “không truy tìm quá khứ” thì làm sao Ngài nói chuyện Tiền Thân kiếp trước cho được.
Nam Tào lắc đầu quầy quậy:
_ Rõ ràng Atula ấy mới chỉ biết một mà chẳng biết hai ba. Ngay trong bài kinh Nhất Dạ Hiền Giả Đức Phật cũng đã giải thích rõ từng câu từng chữ. Những ai không đọc kỹ và không hiểu rõ cả bài kinh mới dám hồ đồ như vậy. Tôi chỉ cần dựa vào tựa đề bài kinh thôi cũng chứng minh Atula ấy sai lầm!
Bắc Đẩu tròn mắt:
_ Hồ đồ ư? Sai lầm gì? Chứng minh thế nào?
_ Chứ gì nữa. Đức Phật dạy bài kinh Nhất Dạ Hiền Giả có nghĩa là dạy một đêm tu tập của một bậc Hiền giả. Bậc “Hiền giả” ở đây có nghĩa là vị Tỳ-kheo hữu học, còn là “hữu học” tức còn phải tu học.
_ Phải tu tập Chánh niệm Tỉnh giác?
_ Đúng vậy. Tu tập Tỉnh giác là tỉnh thức ngay trong phút giây hiện tại, biết rõ việc mình đang làm. Vị Tỳ-kheo hữu học muốn vậy thì phải “Quá khứ không truy tìm, Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại”…
Bắc Đẩu gật gù nhanh miệng:
_ Giống như một em sinh viên đang học để thi, trong lúc ôn thi thì chớ có hoài niệm chuyện quá khứ, cũng chớ có mơ mộng chuyện tương lai, mà phải tập trung vào việc học. Nếu cứ vớ vẩn chuyện quá khứ hoặc tương lai mà không lo học thi thì rớt là cái chắc.
_ Không sai. Còn Chánh niệm là quán Bốn Niệm Xứ. Do vậy các câu kế tiếp là “Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển”. Vị Tỳ-kheo hữu học nhờ tinh cần tinh tấn từng bước đúng hướng như vậy mới đạt được những thành tựu cao hơn.
Bắc Đẩu ra vẻ hiểu chuyện:
_ Cuối cùng là Tam Minh, trong đó có Túc Mạng Minh là biết vô lượng kiếp về trước. Từ đây đạt được Minh thứ hai là Thiên Nhãn Minh, thấy rõ Nhân Duyên Nhân Quả của các chúng sanh.
_ Kế đó là Minh thứ ba tức Lậu Tận Minh, giải thoát hoàn toàn. Có biết rõ thấu suốt từ vô thỉ vô chung luân hồi mới nói chuyện giải thoát khổ đau trong hiện tại lẫn trong muôn kiếp.
_ Cho nên người đời thường nói “Ôn cố tri tân” là vì vậy. Ôn việc cũ để thấu rõ chuyện hiện tại.
_ Cũng thế, Phật nói chuyện “Tiền Thân” để dạy các “Tăng Thân” hiện tiền. Như vậy tôi hỏi ngài chuyện “Tiền thân” có mâu thuẫn với chuyện “quá khứ không truy tìm” không?
Bắc Đẩu mỉm cười:
_ Hoàn toàn không. Giống như em sinh viên lúc nãy nhờ chuyên tâm học thi nên thi đậu, sau trở thành nhà bác học tài ba lỗi lạc. Lúc này ông viết hồi kí, kể chuyện ngày xưa để dạy bảo thế hệ theo sau có thêm kinh nghiệm trong cuộc sống lẫn thành công trong nghề nghiệp.
_ Ngài nói có phần đúng. Tuy vậy tôi cũng xin lưu ý ông, kinh Tiền Thân Đức Phật không phải là không có những chuyện do người đời sau thêm vào, ông phải đọc kỹ và suy xét cho cẩn thận mới thấy rõ.
_ Tôi hiểu, tạng Kinh Tiền Thân Đức Phật trong Tiểu Bộ được kết tập về sau này, do vậy không tránh khỏi có khả năng bị “kẻ lạ” thêm thắt.
_ Điều này có nghĩa tin tưởng hoàn toàn không suy tư cân nhắc kinh Tiền Thân Đức Phật là một cực đoan…
Bắc Đẩu tiếp lời:
_ Nhưng phủ nhận hoàn toàn cả tạng kinh này lại là một cực đoan thứ hai, nguy hại không kém.
Nam Tào cung tay:
_ Ông đúng là Bắc Đẩu Tinh Quân.
Bắc Đẩu cũng chấp tay tán thán:
_ Còn Ngài cũng xứng đáng là Nam Phương Tiên Chủ. Thật tri âm tri kỷ!
Cả hai vị Thiên Nhân phấn chấn phóng hào quang sáng rực cả bầu trời.
______________
Pháp Trích Lục Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, số 132, Trung Bộ 3:
“Thế Tôn giảng như sau:
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Kinh bịa hay người bậy???

Hai vị trưởng lão Như Chơn và Như Thật ngồi đàm đạo với nhau. Trưởng lão Như Chơn nêu vấn đề:
_ Thưa Hiền huynh, có một vị tu sĩ nói rằng kinh Đại Bát Niết Bàn của Nguyên thủy đã bị người đời sau bịa thêm.
Trưởng lão Như Thật nhíu mày, hỏi gặng:
_ Họ nói kinh “bịa” như thế nào?
_ Vị tu sĩ phán rằng trong kinh có đoạn Đức Phật biết nấm độc mà vẫn ăn để rồi chết; như vậy là vô minh, là vô lý, không thể có sự kiện này. Do vậy chuyện Đức Phật ăn nấm độc rồi chết là do người đời sau bịa ra. Những người đi theo vị tu sĩ này cũng tin như thế để rồi đâm ra nghi ngờ cả kinh tạng Nikaya.
Trưởng lão Như Thật lắc đầu quầy quậy:
_ Đúng là thày nói tào lao, trò lao theo nói tầm bậy, không ai chịu suy tư, quán xét gì cả.
_ Họ hồ đồ ư? Xin Hiền huynh hãy chứng minh cụ thể!
Trưởng lão Như Thật nghiêm trang nhấn giọng:
_ Chứ gì nữa. Huynh nên nhớ dù Đức Thế Tôn có ăn hay không ăn bữa ăn cuối cùng ấy thì Ngài vẫn nhập Niết Bàn vào đúng ngày hôm ấy. Vì sao? Vì trước đó, Ngài đã tuyên bố đúng ba tháng sau Ngài sẽ xả bỏ báo thân.
_ Điều này có nghĩa Đức Phật không phải vì ăn nấm độc mà chết?
_ Đúng như vậy. Hẳn vị tu sĩ “bịa thêm” kia và những ai tin vị ấy đã không đọc kỹ chánh Kinh và chánh Luật. Huynh không tin hãy hỏi họ xem trong chánh Kinh – chánh Luật có bao nhiêu lần Đức Thế Tôn đã từng thọ dụng những thức ăn có tẩm độc nhưng Ngài đều vô sự.
_ Thế ư?
_ Những ai còn hồ nghi hãy đọc kỹ chánh Kinh – chánh Luật sẽ rõ. Thậm chí có lần Đức Thế Tôn còn nói Bà La Môn Velaṭṭha Kaccāna hãy cúng dường thêm mật đường có độc cho cả Tỳ-kheo và nhiều người khác nữa, thế nhưng tất cả cũng đều bình an vô sự. Vì sao, Huynh có biết không?
_ Vì Bậc Thầy Trời Người đã hóa giải được chất độc?
_ Đúng vậy. Các ông ngoại học ác hiểm sau khi biết âm mưu của mình đã bị bại lộ và bị vô hiệu hóa đã phải kinh hồn khiếp vía.
Trưởng lão Như Chơn nhanh miệng:
_ Như vậy ở đây nếu muốn, Đức Phật cũng có thể hóa giải nấm độc?
_ Đương nhiên rồi. Chánh kinh ghi lại nguyên văn lời Phật dạy: “- Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
_ Chỉ có Như Lai mới tiêu hóa được nấm độc ấy, còn kẻ khác phải chết ngay tức khắc?
_ Sự việc là như vậy!
_ Thế nhưng biết nấm độc, Đức Phật có quyền từ chối món ăn ấy?
Trưởng lão Như Thật cao giọng:
_ Nếu vậy thì còn gì là Như Lai Lực, còn đâu xứng đáng là Bậc Thầy Trời Người.  
_ Nhưng chứng tỏ thần lực của Như Lai kiểu ấy thì kẻ ganh ghét có thể nói xấu rằng Đức Phật còn ngã mạn, còn muốn ‘khoe’ thần, ‘khoe’ lực.
_ Ai nói sàm như vậy, vì họ đã không hiểu một lý do sâu xa khác nữa.
_ Lý do gì, thưa huynh?
_ Chính trong bài kinh này, Đức Phật đã dạy rõ có hai sự cúng dường bữa ăn được phước báo tối thượng, đó là cúng dường bữa ăn trước khi Đức Phật thành đạo và bữa ăn cuối cùng trước khi Đức Phật nhập Niết Bàn.
_ Thế ra Đức Như Lai thọ nhận bữa ăn cúng dường cuối cùng ấy là vì lòng từ bi muốn ban phước báu hy hữu cho thợ sắt Cunda?
_ Pháp nhĩ như thị. Pháp là như vậy. Hiền huynh nên lưu ý, không chỉ có bấy nhiêu, đoạn kinh kế tiếp cho ta thêm những ý nghĩa quan trọng khác nữa.
Trưởng lão Như Chơn chắp tay khẩn khoản:
_ Ý nghĩa như thế nào? Mong Hiền Huynh chỉ giáo.
_ Chánh kinh có ghi rõ thế này: “Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
… Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda. 
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi. 
Sau khi dùng món ăn loại mộc nhĩ. 
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư. 
Ðiều phục bệnh hoạn
, Thế Tôn dạy rằng:
"Ta đi đến thành Kusinàra".
 
Trưởng lão Như Chơn tỏ vẻ biết chuyện, tiếp lời:
_ Đức Thế Tôn đã điều phục được “cơn bệnh khốc liệt” để tiếp tục bộ hành, sau đó Ngài đã tự đi đến Kusinàra và an nhiên nhập Niết Bàn trước mắt năm trăm vị Tỳ-kheo và nhiều người khác nữa.
_ Điều này có nghĩa Đức Thế Tôn không những đã điều phục được tuổi già, điều phục được bệnh tật của tuổi già mà còn điều phục được cả khổ thọ khốc liệt do chất cực độc gây ra, để điều phục được cái chết khốc liệt một cách an nhiên tự tại trước sự chứng kiến của nhiều người.
Trưởng lão Như Chơn chắp hai tay lên trời đảnh lễ:

_ Làm được như vậy, rõ ràng chỉ có Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Trưởng lão Như Thật cũng chắp tay:

_ Pháp nhĩ như thị. Chỉ cần hiểu được bấy nhiêu đó thôi, tôi hỏi huynh kinh bịa thêm hay có người không hiểu kinh rồi nói bậy?

_ Tôi đã rõ kinh bịa hay người bậy rồi, thưa Huynh. Tin Chánh Kinh hay tin một chiều nhắm mắt tin người đời sau với những nhận định hồ đồ là tùy vào nhận thức của mỗi người. Ở đây chúng ta không tranh luận.

_ Đành rằng như vậy, nhưng huynh hãy hỏi những ai tin vị tu sĩ “bịa thêm” kia, xem vị ấy tịch như thế nào? Vị ấy có báo trước ngày giờ và có tịch một cách công khai, an nhiên tự tại trước mắt mọi người như Đức Phật và các vị A La Hán không? Hay vị ấy lại đột ngột âm thầm ra đi như bao nhiêu người bình thường khác để rồi sau đó chính các đệ tử của vị ấy tha hồ “bịa thêm” này nọ?

_ Vâng, tôi sẽ hỏi họ. Xin cảm ơn Hiền Huynh!

CHÁNH ĐẠO





Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Đạo Phật không phải là Phật giáo!


_ Này, tại sao ông lại nói “Đạo Phật không phải là Phật giáo”?

_ Chứ gì nữa, Đạo Phật là Đạo Phật, Phật giáo là Phật giáo, hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

_ Khác thế nào?

_ Đạo Phật là con đường, là nếp sống chân chánh theo Tám Chánh Đạo; còn Phật giáo là tôn giáo mang danh nghĩa Đạo Phật. Tôi hỏi ông: trong Tám Chánh Đạo có chánh đạo nào dạy mê tín dị đoan, dạy xin xăm xủ quẻ, dạy coi ngày đoán giờ, dạy tế lễ cầu siêu, dạy cúng vàng đốt mã, dạy chuông mõ ầm vang, dạy kiếm đao quyền cước rồi lại còn...

_ Thôi, thôi, thôi, tôi đã hiểu rồi!

_ Hiểu sao?

_ Hiểu Phật giáo không phải là Đạo Phật chứ sao!


Chánh Nhân


Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Quỷ nhập tràng!!!


Hai cư sĩ ngồi nói chuyện với nhau. Cư sĩ áo lam gợi chuyện:
- Này ông, tui nghe nói có một ông thày có thể gọi “hồn” người chết từ dưới địa ngục lên để nói chuyện. Có lần ổng cho gọi “hồn” của một vị Hòa Thượng đến, bắt nhập vào đệ tử của ổng rồi tự thú tội trước hội chúng của ổng. Thực hư thế nào không rõ, chỉ có điều hội chúng của ổng tin theo sái cổ.
Cư sĩ áo trắng thở phì phì:
- Đúng là quỷ nhập tràng!
- Có thật à?
- Chứ gì nữa. Chỉ có điều ông thày “thích gọi hồn” ấy là quỷ quái, chứ không phải vị Hòa Thượng đã chết.
Cư sĩ áo lam nhíu mày:
- Nghĩa là sao? Tôi chưa hiểu.
- Ông hãy hỏi ông thầy thích gọi hồn kia, một tội nhân đã bị bắt vào ngục tù có được ra ngoài tự do thoải mái gặp người này người kia nói chuyện này chuyện nọ không?
- Đã bị tù còn được đi đâu.
Cư sĩ áo trắng mạnh giọng:
Địa ngục cũng vậy thôi. Những người đã bị đọa vào âm phủ làm sao được phép lên dương trần nhập hồn này xác nọ, nói chuyện này chuyện kia vớ vẩn. Ông thấy rõ sự bịp bợm chưa?
- Có thể ông thầy thích gọi hồn nói rằng mình có quyền năng cao siêu, có thể cấp phép “xuất ngục” cho những tội nhân.
- Được thôi. Nếu vậy hội chúng của vị Hòa Thượng kia cũng lập đàn và gọi hồn bọn đầu trâu mặt ngựa dưới âm phủ lên. Bọn ngục tốt ấy khai rằng thực ra ông thầy “thích gọi hồn” là đồng bọn của chúng, được Diêm Vương cho đầu thai lên dương trần để đánh phá Phật giáo, phá hoại đất nước. Ông thầy thích gọi hồn nói sao?
Cư sĩ áo lam gật gù:
- Bó tay chấm com. Đúng là “tràng ông đập lưng ông”.
- Chưa hết, tên ngục tốt còn nói khi ông thích gọi hồn đã có nhiều người tin theo, bước kế tiếp là y gọi ‘hồn’ tất cả những ai không ưa khác cho dù vị đó là anh hùng dân tộc, có công với nước với dân, hạ uy tín các vị này để gây rối loạn xã hội, phá hoại đất nước. Ông thầy gọi hồn nói sao?
- Còn nói gì được nữa. Ổng phải nhận tội lừa bịp, lợi dụng mê tín dị đoan hãm hại người khác còn hơn bị ghép tội phá hoại xã hội, phá hoại đất nước. Thế nhưng, có kẻ khác dựng chuyện “hồn” Thánh này Thần nọ trên Thiên giới nhập xác người phàm thì sao?
- Cũng bịp bợm chứ sao! Tôi hỏi ông, có khi nào một người từ hầm phân hôi thối, leo được lên bờ, sau khi đã tắm rửa sạch sẽ, thoa dầu thơm, áo quần bảnh bao, lại muốn đâm đầu trở xuống hầm phân hôi thối?
- Không bao giờ! Cư sĩ áo lam lắc đầu quầy quậy.
- Cũng vậy thôi. Các Thiên nhân ở trên các tầng trời xem hạ giới như hầm phân hôi thối, đối với họ người trần tục bốc mùi xú uế, họ phải lánh xa vạn dặm thì làm gì có chuyện Tiên, Thần, Thánh, Bụt nhập hồn nhập xác.
- Thế ra, chuyện đồng bóng cũng nhảm nhí à?
- Đúng vậy.
- Giá mọi người hiểu rõ như thế, những kẻ xấu mới không lợi dụng mê tín làm điều xằng bậy, lừa bịp người khác.
Cư sĩ áo trắng kết luận:
- Đó mới chính là giá trị đích thực của đạo luật nhân qủa nhân bản của những người chánh trí.
- Lành thay, lành thay. Tôi hiểu rồi, cảm ơn ông.
Cư sĩ áo lam chắp tay bái phục vị bạn đạo thiện tri thức. Cả hai sánh vai nhau hoan hỷ bước vào chánh điện lễ Phật. Cũng từ đó không có một con quỷ nhập tràng nào dám nhập vào hội chúng của hai vị cư sĩ. Tất cả mọi người đều được an vui hạnh phúc.
Phán Quan

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Vàng thật, vàng giả!

_ Phật pháp có tám muôn bốn ngàn pháp môn. Pháp nào cũng là Phật Pháp.
_ Nhưng Đức Phật cũng nói rõ có pháp chánh – pháp tà, pháp thắng – pháp liệt, pháp trắng – pháp đen, pháp thiện – pháp ác, pháp lợi – pháp hại.
_ Đó là còn đối đãi, còn phân biệt nhị thừa.
_ Những kẻ đem vàng giả gạt người, có bao giờ muốn người khác phân biệt rõ vàng thật, vàng giả không?
_ Giả thật gì cũng là pháp thế gian, mà Phật Pháp bất ly thế gian pháp.
_ Nhưng không phải tất cả pháp thế gian đều là Phật Pháp. Không phân biệt rõ điều này sẽ tưởng tà pháp là chánh pháp, xem tà đạo là chánh đạo, lầm tà kiến là chánh kiến, chấp tà thiền là chánh thiền. Đến lúc ấy khổ đau vẫn hoàn đau khổ, địa ngục không còn xa nữa!
Hoàng Gia

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

Cứu cấp chân lý!!!



Hai thành viên GĐPT ngồi nói chuyện với nhau. Em thứ nhất đặt vấn đề:
_ Trong cuộc sống có quá nhiều cứu cánh chân lý khác nhau. Trong Phật giáo cũng có quá nhiều tông phái khác nhau. Theo cậu, vấn đề nên hiểu như thế nào?
Đối với đời thường, chín người mười ý, do vậy có nhiều chân lý khác nhau là lẽ đương nhiên. Còn trong Đạo Phật, chân lý và cứu cánh chân lý cũng khác với đời thường. Mỗi người phải suy xét cho cẩn thận kẻo đi sai đường.
_ Khác thế nào? Sai đường thế nào?
Thứ nhất, cậu nên đọc kỹ lại bài kinh Canki, số 95, Trung Bộ tập 2. Trong đó Đức Thế Tôn đã phân tích cụ thể có ba mức độ của chân lý theo quan điểm của đạo Phật, đó là: (1) Hộ trì chân lý hay chân lý được hộ trì, (2) Giác ngộ chân lý hay chân lý được giác ngộ và (3) Chứng đạt chân lý hay chân lý được chứng đạt. Hiểu được điều này, vấn đề sẽ rõ ràng hơn.
_ Mình sẽ đọc kỹ. Còn điều thứ hai?
Cứu cánh chân lý chỉ có một, không có hai. Và người nói Pháp không có tranh luận với bất cứ ai ở đời.
_ Mình không tranh luận, chỉ thảo luận thôi.
Em thứ hai gật đầu:
Tốt rồi! Theo ý kiến cá nhân, mình nghĩ trong Đạo Phật Niết Bàn chính là mục đích, là cứu cánh, và bước đầu để đi tới, người cư sĩ đã phải giữ nghiêm năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Mọi người giữ được như vậy thôi, an lạc hiện tiền, còn tìm đâu xa.
_ Còn nhiều nơi khác, để đạt đến mục đích cứu cánh, người ta bất chấp mọi thứ, thậm chí tiêu diệt cả những ai không theo mình dù họ có hiền lương vô tội.
_ Theo mình, cứu cánh chân lý chỉ có ý nghĩa khi nó có lợi cho mình, cho mọi người, cho cả hai, cho toàn thế giới; và không gây hại cho mình, hại cho mọi người, hại cả hai, hại toàn thế giới ngay trong hiện tại lẫn ở tương lai. Muốn vậy, cứu cánh chân lý ấy phải không có tham lam, không có sân hận, không có si mê.
_ Cứu cánh chân lý như vậy thật khó gặp, phải không?
_ Đúng vậy. Cậu hãy tìm kiếm cho chính mình và tìm trong Tám Chánh Đạo thử xem.
_ Tông phái nào cũng nói đến Tám Chánh Đạo.
_ Nhưng họ có theo đúng với định nghĩa của Đức Thế Tôn không? Họ có Chánh Tinh Tấn theo Bốn Chánh Cần không? Họ có Chánh Niệm theo Bốn Niệm Xứ không? Họ có Chánh Định theo Bốn Thiền Bốn Thánh Định không?
_ Mình đã hiểu. Sau hai ngàn năm, cứu cánh chân lý đã thành ‘cứu cấp chân lý’ mất rồi!

Thiện Đạo


Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Im lặng như Thánh

Một cư sĩ Bồ-tát tìm gặp được vị sơn tăng ẩn tu giữa chốn núi rừng cô tịch, cắc cớ hỏi:
_ Ngài độc trú rừng sâu thế này liệu có lợi ích gì cho ai, sao không ra dạy đạo giúp đời?
Tu sĩ ẩn lâm mỉm cười:
_ Chính cuộc sống thiền tịnh độc cư là một bài pháp cho đời.
_ Pháp gì?
_ “Im lặng như Thánh. Đại mánh lắm mồm”.

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2015

Ngửa mặt phun trời

Các Thiên Thần ngồi nói chuyện với nhau. Vị Thiên thứ nhất chép miệng:
_ Trên đời có các Ác ma cứ luôn tìm cách này hay cách khác để xuyên tạc đả kích Đức Phật và Đạo Phật.
Thiên thứ hai:
_ Như vậy chúng mới là Ác ma. Đối với một bậc Đạo Sư cả đời nêu gương sống thiện, làm thiện; trước sau chỉ khuyên dạy mọi người làm lành lánh ác, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, và lại còn chỉ rõ con đường giúp con người đoạn diệt khổ đau; tôi hỏi ngài, một bậc Đạo sư như vậy, những người thực sự hiền trí có bao giờ lại đi đả kích, xem thường?
Thiên thứ ba:
_ Đương nhiên là không rồi, chỉ có thứ ác tà hạnh mới chống đối một vị Thày đáng kính. Thế nhưng các Ác ma rất tinh ranh, chúng thường lý luận lập lờ để phỉ báng giáo lý của Phật.
Thiên thứ tư:
_ Một giáo lý đã tồn tại và phát triển qua hàng ngàn năm không gây ra bất kỳ một cuộc tàn sát nào, không có bất kỳ một cuộc đổ máu nào cho bất kỳ một dân tộc nào. Một giáo lý thiện lành rõ ràng như vậy, những kẻ chống phá càng đả phá bao nhiêu, càng tự phơi bày ác tánh của mình bấy nhiêu.
Đại Phạm Thiên tham gia:
_ Chống phá những giá trị thuộc Chân – Thiện – Mỹ đã được xác định qua hàng ngàn năm như vậy, rõ ràng chỉ có Ác ma hoặc những kẻ phàm phu ngạo mạn ngửa mặt lên trời phun nước miếng.
Các Thiên Nhân đều hoan hỷ đồng ý.
Hoàng Thiên

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Diễn đàn Phật giáo hay ma giáo?



Một nhóm thiếu niên trong Gia Đình Phật Tử đang ngồi nói chuyện với nhau. Em thứ nhất phát biểu:
_ Dạo này trên internet có rất nhiều trang web và blog Phật giáo, tha hồ cho bọn mình đọc.
Em thứ hai cười mỉm chi:
_ Thế kỷ 21 mà. Các bà, các chị ở chợ cũng biết xài laptop rồi đấy.
Em thứ ba chen vào:
_ Thảo nào, thông tin thì nhiều nhưng tìm đỏ con mắt cũng không ra một bài nghiên cứu nghiêm túc, có lợi ích.
Giọng khác thở dài:
_ Trái lại có rất nhiều diễn đàn mang danh nghĩa Phật giáo, nhưng người ta chửi mắng nhau không thua gì hàng tôm hàng cá. Chán lắm!
Em nhỏ nhất vẻ nghiêm trang:
_ Thế hệ chúng mình phải rút kinh nghiệm, phải tránh xa, đừng nên đọc và bắt chước. Đức Phật đã dạy: “Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận với bất cứ một ai ở đời” (*). Thảo luận thì nên, tranh luận thì không, huống hồ chửi bới nhau.
Một giọng mạnh mẽ:
_ Tôi xin tuyên bố diễn đàn Phật giáo nào chửi bới, nhục mạ nhau là diễn đàn ma giáo.
Em trưởng nhóm điềm tĩnh nhắc nhở:
_ Cậu lại bắt chước người ta rồi đấy! Mình chỉ lưu ý các bạn, thời đại @ này, ma và Phật chỉ cách nhau có một cái “click”. Phải thận trọng!
Cả nhóm hoan hỷ tán thành.

Hồng Hài Nhi
_______________________
(*) Kinh Tương Ưng tập 3, số 113

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Có mắt như mù! Có tai như điếc! Có óc như… đậu hũ!

Một Dạ Xoa nhập vào cô Ba-đồng-bóng để khai thị hội nhập tri kiến đạo cho một nữ cư sĩ Ưu Bà Di:
_ Này Ưu Bà Di, tu là phải biết thực hành hạnh “ba không”: không thấy, không nghe, không nói. Phải có mắt như mù, có tai như điếc, có miệng như câm.
Ưu Bà Di giật mình kinh hãi:
_ Ối, cô tu kiểu gì giống mấy con giun quá! Loài thấp sanh giun trùng chúng cũng biết “tam vô”: không thấy, không nghe và có miệng ăn nhưng “câm như hến”, thưa cô.
_ Ờ… thì…
Dạ Xoa lóng ngóng bối rối. Thiện nữ tiếp tục phản công “bắt ấn” trừ tà:
_ Chẳng lẽ thấy người chết đuối cô cũng nhắm mắt làm ngơ? Nghe đứa bé đói rét khóc, cô cũng bịt tai bỏ lờ? Nói để cứu người, cứu mình, cũng ngậm miệng luôn chăng?
Im lặng bao trùm. Dạ Xoa ngắc ngứ, ợ lên ngáp xuống. Ưu Bà Di điềm nhiên “chưởng” tiếp:
_ Không nhìn làm sao đọc được lời Phật dạy trong kinh điển? Không nghe làm sao biết lời người hiền trí nói? Không nói thì cô mở miệng làm gì?
Cô Ba-đồng-bóng lắc lư giật mình tỉnh ngộ, hỏi lại:
_ Vậy thế nào là tu?
_ Tu là không nhìn những gì không đáng thấy, không nghe những điều không đáng nghe, không nói những lời không đáng nói. Và phải biết nhìn những gì đáng thấy, nghe những điều đáng nghe và nói những lời đáng nói.
_ Những gì không đáng thấy, không đáng nghe, không đáng nói?
_ Không đáng thấy, không đáng nghe, không đáng nói những gì hại mình, hại người, không lợi mình, không lợi người; làm ác pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm.
_ Còn những gì đáng thấy, đáng nghe, đáng nói?
_ Đáng thấy, đáng nghe, đáng nói những gì không hại mình, không hại người, lợi mình, lợi người; làm thiện pháp tăng trưởng, ác pháp suy giảm.
_ Xin tâm phục, khẩu phục. Ưu Bà Di mới chính là đạo sư thực sự!
_ Không dám, thưa cô Ba Dạ Xoa!
Dạ Xoa biết mình đã bị bại lộ liền tháo lui biến mất tại chỗ. Kể từ dạo đó Dạ Xoa sợ hãi và luôn tránh né Ưu Bà Di, riết rồi nó phải từ bỏ thôn xóm ra đi. Nhờ thế dân làng thoát khỏi sự phá hoại của Dạ Xoa. Mọi người trở nên khôn ngoan hơn và gia đình cũng được an vui hạnh phúc nhiều hơn.

Tiểu Thiên Vương 
_________________________
Ghi chú: Thấy việc thiện mà vẫn khoanh tay nhắm mắt làm ngơ khác nào kẻ chết nằm. Chánh Kinh Pali đã dạy rõ:
“-- 501. Có mắt, như kẻ mù,
Có tai như kẻ điếc,
Có trí, như kẻ ngu,
Có sức, như kẻ yếu,
Ðể việc lành khởi lên,
Nằm như kẻ chết nằm”
 (Thera. 52)
Lại nữa, từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước Đức Thế Tôn đã dạy rồi nhưng những kẻ có mắt như mù, có tai như điếc, có óc như đậu hũ nên mới không hay biết gì cả. Thật vậy,
“Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Kajangala, tại Mukheluvana.
Rồi thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của Pasariya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của Pasariya đang ngồi một bên:
-- Này Uttara, Bà-la-môn Pasariya có thuyết về căn tu tập cho các đệ tử không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pasariya có thuyết về căn tu tập cho các đệ tử.
-- Nhưng này Uttara, Bà-la-môn Pasariya thuyết về căn tu tập cho các đệ tử như thế nào?
-- Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pasariya thuyết về căn tu tập cho các đệ tử.
-- Nếu là như vậy, này Uttara, theo như lời nói của Bà-la-môn Pasariya, người mù sẽ là người có căn tu tập, người điếc sẽ là người có căn tu tập. Này Uttara, người mù không thấy sắc với mắt, người điếc không nghe tiếng với tai.
Khi được nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Uttara đệ tử của Pasariya ngồi im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì…” (Trích Kinh Căn Tu Tập, Trung bộ 3, số 152)
Đọc đến đây các ngài thích-vô-vô còn chút lương tri hẳn cũng phải biết “ngồi im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì”.

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO

Trưởng lão Đạo Tâm là vị đại cao tăng tài đức vẹn toàn. Với tấm lòng thiết tha vì đạo Pháp, ngài luôn trăn trở và cổ động tích cực cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Một đêm nọ, vị cao tăng đang mải mê viết những dòng tâm huyết đóng góp ý kiến cho thế hệ trẻ, bỗng nhiên một vầng hào quang rực rỡ soi sáng khắp cả thư phòng khiến vị đạo sư phải vội vàng dừng bút. Chưa hết kinh ngạc, đạo sư đã thấy một vị thần Tăng hiện ra giữa ánh sáng báu, toàn thân Thánh Tăng như bao phủ một lớp vàng ròng tinh khiết. Trưởng lão Đạo Tâm chắp tay kính cẩn lên tiếng:
_ Thưa, ngài là ai?
Vị Thần Tăng im lặng khoát tay, ngay tức khắc toàn thư phòng biến thành một cung điện nguy nga tráng lệ. Với dáng vẻ khoan thai vị Thần tăng bước đến an tọa trên tòa sen nạm toàn ngọc báu, cất giọng từ bi:
_ Đệ nhất thần thông trưởng lão Đại Mục Kiền Liên là ta!
Trưởng lão Đạo Tâm lật đật phủ phục sát đất:
_ Bạch Đại Thánh Tăng, xin tha thứ cho kẻ có mắt như mù này, không biết Đại Thánh ngay từ đầu để cung nghinh đúng phép.
Thánh Tăng Mục Kiền Liên ôn tồn:
_ Ai nỡ bắt tội một người có tâm đạo chân thành và giới hạnh thanh tịnh như ngươi. Hãy ngồi xuống đây!
Trưởng lão Đạo Tâm đảnh lễ Thánh Tăng ba lạy rồi cẩn trọng ngồi thấp xuống một bên nơi chỗ dành sẵn. Như không thể chờ đợi lâu hơn nữa đại sư Đạo Tâm đánh bạo khẩn khoản:
_ Bạch Đại Thánh Tăng, xin ngài cho phép con được hỏi một câu.
Vị Đệ nhất thần thông mỉm cười độ lượng:
_ Hãy hỏi điều ngươi thắc mắc.
_ Bạch Ngài, các tu sĩ đệ tử Phật phải như thế nào để góp sức chung lòng chấn hưng Phật giáo?
_ Tất cả hãy trở về chỗ của mình và làm công việc của họ.
_ Thưa, chỗ nào và việc gì?
_ “Vị ấy thành tựu Thánh Giới Uẩn này, thành tựu Thánh Hộ Trì Các Căn này, và thành tựu Thánh Chánh Niệm Tỉnh Giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt”.
_ Bạch ngài, trong kinh văn, điều này được nhắc nhở rất nhiều lần!
_ Đúng vậy! Vì nó rất quan trọng!
_ Thưa, nhưng khốn nỗi các Tăng Ni ngày nay họ luyến ái thành phố, họ đam mê đô thành, họ quyết tử thủ ở lại chốn phồn hoa đô hội một bước không rời, ăn xong họ thẳng lưng nằm ngủ, an trú phóng dật trước mặt.
_ Hãy nhắc họ: trong thành thị ngoài con người còn có biết bao chuột, gián, kiến, mối, nhện, thằn lằn, giòi bọ, thiêu thân... Tất cả chúng cũng ái luyến ánh đèn đô thị. Ngoài dục bản năng chúng còn có dục “đèn đường”, dục “xe cộ”, dục “nhà lầu”, dục “ồn náo”... Không diệt những tham dục này làm sao thoát cảnh đô hội trong tương lai dưới kiếp hai cánh, bốn chân, tám cẳng. Tu xong rồi muốn gì mà không được.
Nói xong vị Thánh Tăng chỉ tay một vòng cung điện. Đại sư Đạo Tâm định cất tiếng hỏi tiếp nhưng vị Thánh Tăng đã ra dấu ngăn lại:
_ Hãy thực hiện đúng lời Phật, các ngươi sẽ giải đáp tất cả thắc mắc còn lại. Được giải thoát rồi, tha hồ hộ đạo cứu đời mà không bị đời lôi cuốn. Muốn chấn hưng Phật giáo, trước hết phải chấn chỉnh từ mỗi người đệ tử.
Thánh Tăng Mục Kiền Liên vừa dứt lời, ánh hào quang rực rỡ bỗng nhiên biến mất, vạn vật lại chìm trong bóng tối mờ ảo. Đại sư Đạo Tâm phải dụi mắt định tâm hồi lâu mới nhận ra căn phòng xưa cũ của mình. Hóa ra đạo sư vừa trải qua một giấc mộng, và cũng ngay lúc ấy một ý tưởng vụt lóe lên trong tâm trí của vị đại sư khiến ngài phải vội vàng thắp thêm ngọn đèn dầu, trở lại bàn giấy chăm chú viết tiếp những dòng tâm huyết.

Tâm Đạo

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2015

Truyền thống gì?


Vị Sư Cả, vốn nổi tiếng khắt khe về truyền thống nguyên thuỷ của mình, cho gọi chú sadi vào phòng quở trách nặng nề:
_ Ngươi là thứ phá đạo, lừa bạn phản thầy, phá bỏ tôn ti truyền thống. Tại sao ngươi lại nói với các giới tử và cư sĩ là lời của ta tầm thường sáo rỗng, còn lời của các ngươi mới thực sự cao siêu vi diệu?
Chú sa di chắp tay cung kính:
_ Thưa, con theo đúng gương ngài, chứ nào dám nói sai nửa lời, đi sai nửa bước.
_ Láo! Ta dạy ngươi như thế bao giờ?
_ Dạ, chính ngài đã nhiều lần dạy con, lời Phật trong kinh điển chỉ là tục đế, là thường pháp, là dụ người, trói người. Còn tạng luận của các luận sư mới thực sự là chân nghĩa đế, là quan trọng nhất, là vi diệu pháp. Nếu ngài mắng con, thì ai trách ngài đây?