Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

LUẬT SƯ HỎI DƯỢC SƯ TÀU BÀ LA MÔN

Trong "Dược Sư Kinh Sám" (HT Thích Trí Quang dịch giải), có các đại nguyện của Dược Sư như sau:
“Đại nguyện thứ ba, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vận dụng vô lượng trí tuệ và phương tiện, làm cho mọi người cùng được vô tận những vật hưởng dụng, không để cho ai có sự thiếu thốn”.
Câu hỏi: Thực tế đã và đang xảy ra đúng như lời nguyện trên không? Nếu không, chứng tỏ Dược Sư chưa thành Phật, chưa được tuệ giác vô thượng?
Câu hỏi: Ai đó nói rằng lời nguyện trên chỉ xảy ra nơi cõi Đông Phương (?), vậy cõi Ta Bà này cần gì Dược Sư và “kinh Dược Sư” với những lời nguyện không thực tế? Một kẻ đại bịp, đại nói khoác có dám phát ‘đại nguyện’ như Dược Sư không?
“Đại nguyện thứ tư, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì những kẻ đi theo tà đạo đều được làm cho ở yên trong đạo giác ngộ, những người tu theo Thanh Văn duyên giác đều được xây dựng bằng pháp Đại Thừa”
Câu hỏi: Khi phát nguyện này Dược Sư chưa thành Phật, chưa có tuệ giác vô thượng, thế nhưng tại sao lại biết cõi Ta Bà sau khi Phật Thích Ca nhập Niết-bàn sẽ có pháp Đại Thừa cùng các “Thanh Văn duyên giác”?
Câu hỏi: Một kẻ ngoại học có tạo được một ông Dược Sư rồi “gắn vào miệng Phật Thích Ca” không?
Y có dám nói láo nhằm kích động Đại Thừa thanh toán Tiểu Thừa không?
Câu hỏi: Nếu nói cõi của Dược Sư cũng có phái Đại Thừa và Tiểu Thừa; phải có dẫn chứng và chứng minh cụ thể. Tất nhiên không thể có những bằng chứng này và khi đó có đáng tin không những lời ngụy biện vô căn cứ, những hý luận chung chung của những kẻ cuồng tín cố chấp bảo thủ cho đức tin của mình?
Đại nguyện thứ năm, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vô số người tu hành phạn hạnh trong chánh pháp của con, con làm cho tất cả được giới thể không thiếu sót, trọn vẹn giới pháp ba loại. Giả sử phá phạm đi nữa, nghe danh hiệu con rồi là phục hồi thanh tịnh, không rơi vào đường dữ.
Câu hỏi: Nguyện trên khuyến khích phá giới hay sách tấn giữ giới?
Các nhà tù hãy phát loa danh hiệu “Dược Sư” cho các tù nhân được nghe để xem họ có “phục hồi thanh tịnh” được không, có thoát khỏi “rơi vào đường dữ” không? Nếu không, rõ ràng Dược Sư là Chú Cuội giả danh rồi!
Đại nguyện thứ sáu, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ thân hình thấp kém, giác quan không đủ, xấu xí, u mê, mù điếc, câm ngọng, tay quắp, chân quẹo, lưng gù, phung lác, điên cuồng, đủ thứ bịnh khổ, nhưng nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều đẹp đẽ, thông minh, giác quan hoàn bị, hết mọi bịnh khổ. 
Câu hỏi: Thực tế có xảy ra đúng như lời nguyện trên không? Nếu không, chứng tỏ Dược Sư chưa thành Phật, chưa được tuệ giác vô thượng?
Câu hỏi: Nếu lời nguyện trên chỉ xảy ra nơi cõi Đông phương nhưng hoàn toàn không đúng nơi cõi Ta Bà này, vậy cõi Ta Bà này cần gì Dược Sư và “kinh” Dược Sư với những lời nguyện khoác lác?
Nếu phải có thời gian ứng nghiệm, một kẻ gian tà có dám “nguyện đại” như thế không để lừa bịp và dụ dỗ mọi người?
Đại nguyện thứ bảy, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ bị mọi thứ bịnh khổ hành hạ mà không ai cứu giúp, không nơi nương tựa, không có y sĩ, không có dược liệu, không có thân thuộc, không có nhà cửa, nghèo nàn lắm khổ, thì danh hiệu của con, một khi đi qua thính giác của họ, là bịnh khổ tan biến, thân tâm an lạc, nhà cửa, thân thuộc và đồ dùng, đầy đủ tất cả, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.
Câu hỏi: Có ai bị mọi thứ bệnh khó nghèo mà chỉ cần nghe danh hiệu “Dược Sư” đi qua thính giác thôi mọi khổ đau bịnh hoạn đều được tan biến không?
Nếu không, chứng tỏ Dược Sư chưa thành Phật, chưa được tuệ giác vô thượng; hoặc kẻ vẽ ra cuốn ‘kinh… sợ’ này là một kẻ đại nói khoác, thích đại hứa để dụ dỗ những kẻ cả tin, ngu khờ!
Đại nguyện thứ tám, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, nếu có nữ nhân nào bị hành hạ bởi cả trăm thứ khổ sở của nữ nhân, nên cùng cực chán ngán, muốn thoát thân ấy, thì nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều chuyển thân nữ nhân thành thân nam tử, đủ tướng trượng phu, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.
Câu hỏi: Có nữ nhân nào nghe được danh hiệu “Dược Sư” mà biến thành nam nhân liền hãy lên tiếng? Nếu không, chứng tỏ Dược Sư chưa thành Phật, chưa được tuệ giác vô thượng?
Ngay cả những nữ nhân hàng ngày tụng Dược Sư, nghe danh hiệu Dược Sư, có ai đã biến đổi được giới tính?
Đại nguyện thứ mười, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì những kẻ bị phép vua ghi sổ, xích trói đánh khảo, giam nhốt lao ngục, sắp bị hành hình, cọng với vô lượng tai nạn khổ nhục và bi thảm sầu muộn khác nữa, ngâm nấu bức bách, làm cho cả cơ thể lẫn tâm trí đều chịu thống khổ, nhưng nghe danh hiệu của con, thì vì năng lực phước đức và uy thần của con mà họ thoát hết mọi sự lo sợ khổ sở.
Câu hỏi: Cai ngục hoặc người nhà tù nhân hãy cho tù nhân nghe một trăm lần danh hiệu “Dược Sư” để xem hiệu quả có đúng như lời nguyện này không?
Nếu không, chứng tỏ Dược Sư không có năng lực phước đức và uy thần gì cả, hoặc kẻ vẽ ra cuốn “Dược Sư” cố tình khoác lác để Phật giáo Đại Thừa mang tiếng là tôn giáo đại… hứa?
Đại nguyện mười một, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ bị đói khát hành hạ, vì cầu cái ăn mà làm mọi ác nghiệp, nhưng nghe được danh hiệu của con, nhất tâm thọ trì, thì trước hết con làm cho họ no đủ cơ thể bằng thực phẩm tuyệt diệu, sau đó con sẽ đem cái vui cứu cánh của pháp vị mà xây dựng cho họ. 
Câu hỏi: Tại sao những ai tin Dược Sư không đến các khu ổ chuột, vùng đói nghèo để giúp những kẻ nghèo đói được nghe danh hiệu Dược Sư, để xem họ có thoát khỏi nghiệp khổ được không?
Đại nguyện mười hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ nghèo thiếu y phục, ngày đêm khổ sở vì muỗi mòng lạnh nóng, nếu nghe danh hiệu của con mà nhất tâm thọ trì, thì như sở thích của họ, họ được liền những thứ y phục tuyệt diệu, lại được những đồ trang sức bằng vàng ngọc. Hoa vòng, hương hoa, âm nhạc hòa tấu và mọi kỹ thuật biểu diễn, tùy ý họ thích, con làm cho đầy đủ tất cả.
Câu hỏi: Thế giới này có biết bao những người nghèo đói thiếu ăn thiếu mặc, tại sao những ai tin Dược Sư không giúp họ nghe danh hiệu Ngài mà nhất tâm thọ trì để họ được liền đầy đủ tất cả những y phục tuyệt diệu, trang sức vàng ngọc?
Câu hỏi: Những lời nguyện đầy dẫy sự phi lý, vô căn cứ, không thực tế là lời nguyện của một bậc đại trí tuệ hay của một kẻ đại vọng ngữ? Phải chăng kẻ vẽ ra Dược Sư đã bất chấp cả sự thật và luật nhân quả để mê hoặc lòng người? Hay kẻ vẽ ra “Dược Sư” cố tình nói khoác để Phật giáo Đại Thừa bị mang tiếng xấu là tôn giáo mê muội và cuồng tin?
PHẬT HỌC CAO CẤP

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

NĂM TRĂM NĂM HAY NĂM NGÀN NĂM???

Trong kinh Tăng Chi tập 3, chương 8, Phẩm Gotami, bài kinh Mahāpajāpati Gotamī (trang 649-658), Đức Thế Tôn đã chánh biến tri rõ:
- Này Ānanda, nếu nữ nhân không được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, thời này Ānanda, Phạm hạnh được an trú lâu dài, và Diệu Pháp được tồn tại đến một ngàn năm. Vì rằng, này Ānanda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nay này Ānanda, Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài, thời này Ānanda, Diệu Pháp được tồn tại năm trăm năm. 
Bên cạnh đó, trong tạng Luật phần Tiểu Phẩm, chương thứ mười, cũng phản ảnh hoàn toàn đúng với điều tiên tri “Diệu Pháp tồn tại năm trăm năm” giống như trong tạng Kinh.
Đương nhiên một Đấng Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn không bao giờ nói trước sau sai lời.
Không bao giờ có chuyện một bậc Chánh Đẳng Giác lại nhầm lẫn giữa năm trăm năm (500)năm ngàn năm (5.000), nhất là khi vấn đề liên quan đến sự tồn tại của Diệu Pháp.
Thế nhưng một ngàn năm sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, một luận sư gốc Bà-la-môn là Phật Âm (Buddhaghosa) nhảy ngang vào Đạo Phật lại chú thích tự giải rằng: “Nói đến 1000 năm là đề cập đến sự diệt tận các lậu hoặc với sự thành đạt về bốn Tuệ Phân Tích. Từ đó về sau là 1000 năm của sự diệt tận các lậu hoặc do thuần túy Minh Sát, 1000 năm của đạo quả Bất Lai, 1000 năm của đạo quả Nhất Lai, 1000 năm của đạo quả Nhập Lưu. Như vậy, Pháp Thành sẽ tồn tại 5000 năm”.
Để khỏi mất thì giờ giải thích luận giải trên, xin trích dẫn ngay lời dạy của chính Đức Thế Tôn:
“- Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””.
Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Và Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
- Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””.
Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh". 
Này các Tỷ-kheo, như vậy là Đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.”  (Xem thêm các Đại căn cứ địa thứ nhất, thứ hai, thứ ba trong Tăng Chi 2, Chương 4, tr.135-140)
Theo lời dạy trên, ngay cho dù Phật Âm Bà-la-môn sống cùng thời với Đức Thế Tôn, những người con Phật còn phải biết nghe theo Phật Thích Ca dựa vào Kinh và Luật để cẩn trọng nhận định lời của Phật Âm, huống hồ ở đây vị luận sư gốc Bà-la-môn này sống sau Phật cả ngàn năm và nổi tiếng chống các phái ly khai khỏi đạo Bà-la-môn giáo [1]
Thế nhưng vì sao luận sư Bà-la-môn Phật Âm lại giải thích năm trăm năm’ thành ‘năm ngàn năm? Thật đơn giản: để ru ngủ mọi người rằng họ vẫn còn may mắn sống trong thời kỳ của Chánh Pháp tồn tại, từ đây mọi người sẽ chủ quan, dễ dàng tin rằng các kinh-luật-luận của các luận sư Bà-la-môn giới thiệu đều thực sự của Phật giáo, mọi ý kiến của “Thánh Tăng” Phật Âm Bà-la-môn đều chân thực, có giá trị, và rất đáng tin cậy.
Ngược lại nếu mọi người biết rõ Chánh Pháp chỉ tồn tại năm trăm năm, lúc ấy họ sẽ cảnh giác hơn với tất cả các "Tam Tạng" xuất hiện sau này. Họ cảnh giác cả với các “Bồ-tát” Bà-la-môn như Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, và cả Phật Âm… Nhờ vậy họ sẽ cố tìm về những Kinh-Luật chính gốc, thọ trì những lời dạy thực sự của Đức Thế Tôn; lúc ấy các “Bồ-tát” Bà-la-môn và các kinh-luật-luận cải biến sẽ phải lộ nguyên hình là ngụy tạo. Khi ấy Phật Pháp sẽ lại được xương minh sáng ngời. Dĩ nhiên, đây là điều mà các tà sư gián điệp ngoại học hoàn toàn không muốn. Cho nên các tà sư gián điệp như Phật Âm phải kéo dài thêm thời kỳ của Chánh Pháp là vì vậy.
Đến đây xin hỏi những ai tin theo Phật Âm: “Một người đang bị bệnh nhưng cố tình dấu giếm không thừa nhận căn bệnh của mình, liệu có thoát được bệnh không?” Hẳn là không, bệnh là bệnh, thậm chí càng che dấu bệnh, càng có nguy cơ trở nặng.
Trái lại phải theo lời dạy của Bậc Y vương: “Ví như, này các Tỷ-kheo, có đứa con nít, trẻ nhỏ, ngây thơ đang nằm ngửa, do người vú vô ý, đứa nhỏ cầm một cây que hay hòn sạn cho vào miệng.
Người vú hầu ấy phải mau chóng tác ý. Sau khi mau chóng tác ý, phải mau chóng móc cho ra. Nếu không có thể mau chóng móc ra được, thời với tay trái nắm đầu nó, với tay mặt, lấy ngón tay làm như cái móc, móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì cớ sao?
Này các Tỷ-kheo, làm như vậy, có hại cho đứa trẻ. Ta nói rằng không phải không có hại. Như vậy, này các Tỷ kheo, người vú hầu phải làm như vậy vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn (đứa trẻ). Nhưng này các Tỷ-kheo, khi đứa trẻ ấy đã lớn lên, và có đủ trí khôn, người vú hầu ấy không săn sóc nó nữa, nghĩ rằng: "Nay đứa trẻ đã biết tự bảo vệ mình, không phóng dật nữa" (Tăng Chi 2, chương 5, phẩm Sức mạnh hữu học, bài kinh số 7)”.
Ở đây vấn đề tồn tại của Diệu Pháp cũng cần phải được thẳng thắn nhìn nhậnmau chóng cứu chữa như vậy.
Có thể có người hỏi rằng: Phật giáo vẫn tồn tại ở nhiều nước và thậm chí còn đang tiếp tục phát triển sang các nước phương Tây chứ không có biến mất?
Xin thưa, một Phật giáo tồn tại theo những hình thức tôn giáo và bị pha tạp quá nhiều những tư tưởng ngoại lai đến độ những lời dạy chính thống bị xem là thường pháp, là tục đế thì lời tiên tri “Diệu Pháp biến mất sau năm trăm năm” là hoàn toàn chính xác.
Cần lưu ý thêm: Đức Thế Tôn tiên tri “Diệu Pháp biến mất” chứ không nói “Phật giáo bị tiêu diệt”. Điều này có nghĩa “Diệu Pháp” với ý nghĩa là một Chánh pháp cứu khổ thực sự không còn (ví dụ Chánh Định Bốn Thiền Bốn Thánh Định không còn ai biết đến), nhưng “Phật giáo” với ý nghĩa là một tôn giáo mang danh nghĩa đạo Phật, với những hình thức lễ nghi mê tín thì vẫn còn tồn tại.
Điều tiên tri của Đức Thế Tôn thực ra là lời cảnh giác nghiêm khắc cho các Phật tử về thời điểm chính xác Phật pháp bị biến chất. Thời điểm này phù hợp một các kỳ lạ với sự xuất hiện hàng loạt các luận sư Bà-la-môn “quy y” theo Phật giáo cùng với những kinh - luật - luận ngụy tạo của họ.
Chính vì thế các con Phật phải cảnh giác chớ có cả tin, và đây mới là mục đích chính yếu của lời tiên tri. Thế nhưng, một khi các Phật tử nói chung và các Tỳ-kheo-ni nói riêng cả tin dễ dàng chấp nhận và tin tưởng các Bồ-tát gián điệp cùng các kinh-luật-luận giả tạo, thì việc Diệu Pháp chính gốc phải bị biến mất là điều hiển nhiên.
Nếu mỗi người con Phật nhận thức rõ lời tiên tri của Đức Chánh Biến Tri và thận trọng cảnh giác với các ông Bà-la-môn gián điệp thì đạo Phật không đến nỗi biến hoại và họ sẽ tránh khỏi bị đọa vào địa ngục vì tà kiến
Do vậy những Tỳ-kheo-ni nói riêng và tất cả đệ tử Phật nói chung phải ý thức rõ điều này, đồng thời phải thấy được sự nguy hại do bản tính cả tin của mình để từ đó cảnh giác hơn với tất cả kinh-luật-luận xuất hiện từ sau năm trăm năm Phật Thích Ca nhập diệt.
Được như vậy thì Diệu Pháp dù có biến mất vì sự vô minh của chúng sanh, nhưng sẽ “sống lại” nhờ vào trí tuệ của chính người con Phật biết dựa vào những lời dạy thực sự của Đấng Đạo Sư.
Thực vậy, vì bên cạnh lời tiên tri cảnh giác nêu trên, Đức Thế Tôn còn nêu lên rất nhiều các lời dạy khác về sự tồn tại của Diệu Pháp. Điển hình là lời dạy của Ngài trong Tương Ưng 5, bài kinh số 174:
“Do Bốn Niệm Xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu Pháp không có tồn tại lâu dài. Do Bốn Niệm Xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu Pháp được tồn tại lâu dài”.
Ý kiến: Ngay phần đầu của Bốn Niệm Xứ là pháp môn Định Niệm Hơi Thở với các câu Như Lý Tác Ý. Thử hỏi những người con Phật ngày nay có ai còn tu biết theo đúng lời dạy này của Phật không? Hay chỉ biết “phồng xẹp”, đếm hơi thở, theo dõi hơi thở? hay ‘Á mi tù phù’, ‘tri vọng’, ‘Hum ma ni bát mệ hồng’?
Bấy nhiêu cũng đủ hiểu ngày nay Bốn Niệm Xứ thật sự đã không còn được tu tập theo đúng chánh pháp, và vì thế Diệu Pháp thực sự đã không còn tồn tại. Ai đó còn hoài nghi, hãy đọc kĩ lời tiên tri khác của Đức Thế Tôn dưới đây:
“Và có năm pháp, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của Diệu Pháp.
Thế nào là năm?
Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ  sống kính trọng, tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống kính trọng, tùy thuận Chánh pháp, sống kính trọng, tùy thuận chúng Tăng, sống kính trọng, tùy thuận Học giới, sống kính trọng tùy thuận Thiền định.
Chính năm pháp này, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của Diệu Pháp”  (S.ii,223)
Ý kiến: Việc các đệ tử Phật có thực sự cung kính Ngài không còn phải xét lại. Bởi lẽ có nhiều nơi Phật tử tin theo các Bà-la-môn gián điệp đời sau dương dương tự đắc “vô chấp”, “vô phân biệt” tất cả; đến độ có Tổ sư phán “Bụt là cục kít khô”, có Thiền sư thừa nhận “con chó có Bụt tánh”… ???
Bên cạnh đó, hãy quán xét tất cả các tông phái của Phật giáo ngày này xem có còn tông phái nào biết kính trọng tùy thuận Chánh Định tức Bốn Thiền - Bốn Thánh Định của Đức Phật không? Thực tế chẳng còn tông phái nào cả, có chăng chỉ mang danh nghĩa tu Bốn Thiền vậy thôi, chứ thực sự chỉ một chiều tin theo tưởng giải của vị thầy, hoàn toàn không theo đúng “mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu” trong Chánh Kinh của Phật. 
Chỉ cần xét bấy nhiêu cũng đủ hiểu vì sao Diệu Pháp thực sự đã biến mất cả rồi!
Tuy vậy trong tạng Luật cũng có một tiên tri chính xác khác, và theo đây những người con Phật có quyền hy vọng vào sự xương minh của Chánh Phật Pháp:
“Khi Tạng Kinh quên lãng
và luôn Tạng Diệu Pháp,
còn Tạng Luật chưa hoại
Giáo Pháp vẫn tồn tại.”
(Đại Phẩm, phần cuối Chương Trọng Yếu, theo bản dịch của TK Nguyệt Thiên)
Quả thật khi mọi người đều tin theo các luận sư Bà-la-môn đời sau, nghĩ rằng những lời Phật dạy trong kinh tạng Nikāya “chỉ là thường pháp, là tục đế, không phải chân nghĩa đế”, hay nó chỉ là thứ kinh “Tiểu Thừa” kém cỏi chỉ dành cho thứ “chồi khô mộng lép”, “tiêu nha bại chủng” thì xem như Tạng Thánh Kinh đã bị xem thường và quên lãng thực rồi.
Khi mọi người không còn biết đúng theo định nghĩa trong Kinh Luật,rằng Tạng Vi Diệu Pháp chính là 37 Phẩm Trợ Đạo (Abhidhamma, thắng Pháp, A-tỳ-đàm); trái lại các Phật tử chỉ đua nhau tin theo tạng “Luận - Vi Diệu Pháp” của các luận sư đời sau. Họ đua nhau hý luận chia chẻ tâm sở, tâm vương, tâm hiệp thế, tâm đáo đại… nhưng không biết tâm nào giúp diệt tham-sân-si, tâm nào đoạn kiết sử, tâm nào trừ triền cái thì xem như Tạng Diệu Pháp cũng đã bị quên lãng luôn rồi.
Thế nhưng khi Tạng Luật Pātimokkha vẫn còn thì Giáo Pháp xem như vẫn tồn tại. Vì sao? Vì khi tạng Luật Pātimokkha vẫn còn, khi ấy các Tỳ-kheo chân chính theo đây giữ nghiêm giới hạnh. Khi giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh, tri kiến thanh tịnh (Kinh Bảy Trạm Xe).
Các vị này nhờ có tri kiến thanh tịnh nên mới thấy rõ giá trị vô song của Kinh Luật chính gốc, và đồng thời các vị này mới có sức mạnh trí tuệ bứt khỏi bóng ma của các luận sư gián điệp để thấy rõ và chỉ rõ sự ngụy trá của các luận sư Bà-la-môn gián điệp đã phá hoại Phật Pháp thông qua tạng Luận như thế nào, nhờ vậy Chánh Pháp mới được xương minh sáng ngời.
Do vậy, mỗi người con Phật phải tỉnh giác loại trừ tất cả các kinh-luật-luận ngụy tạo xuất hiện sau khi Phật nhập diệt 500 năm. Đồng thời phải tích cực giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, thọ trì và tu tập đúng chánh Kinh NIKAYA và chánh Luật PATIMOKKHA Nguyên Thủy, có vậy Diệu Pháp mới đem lại những giá trị thiết thực hiện tại cứu thoát cho chính mình và cho mọi người.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
TẬP SAN PHẬT HỌC CAO CẤP
___________________
[1] Theo bản tường trình Dhammakitti viết về Buddhaghosa có ghi rõ:"...Ông là một thanh niên thuộc đẳng cấp Bà-la-môn, sinh tại vùng phụ cận thị trấn Magadha, là nơi trồng cây Đại Bồ-đề, ông đã hoàn tất việc huấn luyện theo phái "vijja" và "sippa”,  và có kiến thức rất sâu rộng về ba phái "Phệ-đà”,  và ông cũng là người có được nhiều tài năng uyên bác, đã hoạt động không biết mỏi mệt chống lại các phái ly giáođã tự coi mình là người chống lại ly giáo khắp vùng Jumbudīpa…” (Nguyên tác: The Life and work of Buddhaghosa. Tác giả: Bimala Charan Law, M.A., B.L; Dịch giả: Tỳ-khưu Thiện Minh).
Còn trong phần phụ giải sách “Chú giải Kinh Pháp Cú tập 1”, trang 93,dịch giả Pháp Minh đã ghi chú:
“Ngài Buddhaghosa, tác giả bộ Chú Giải Pháp Cú Kinh, là một Tỳ-khưu ở xứ Thaton, dòng dõi Bà-la-môn xuất gia theo Phật giáo vào thế kỷ thứ V, Ngài rất thông suốt Tam Tạng và được Phật giáo Nam Tông xem là một vị Thánh Tăng, đã có công chấn chỉnh Phật giáo suy đồi ở Tích Lan,thủ tiêu những kinh điển mà Ngài cho là không đúng đường lối của Đức Phật, và có viết lại bằng Pāli những Bộ Chú Giải, nhất là bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) mà chư Tăng ngày nay lấy làm kinh chánh để tu học về GIỚI - ĐỊNH - TUỆ. Tuy nhiên, gần đây có một số chư Tăng ở Thái Lan bắt đầu ngờ vực những công trình của Ngài. Vì lẽ, dòng dõi Bà-la-môn của Ngài bao giờ cũng chủ tâm dẹp bỏ Phật giáo, hay ít nhất cũng hạ bệ Phật và sắp Ngài vào hàng dưới Đức Phạm Thiên của họ, biết đâu chừng những kinh chính thống Phật giáo đã bị thiêu đốt và thay thế bằng những giáo lý lai Bà-la-môn?”.

TỔ HOA NGHIÊM CŨNG MÙ CÂM ĐIẾC?


Trong phần Giới thiệu Kinh Hoa Nghiêm của Cao Quán Như , CS. Định Huệ dịch, có đoạn: “Trong hội thứ chín của kinh Hoa Nghiêm, Phật ở rừng Thệ-đa cùng với 500 vị Đại Bồ-tát như Văn-thù, Phổ Hiền, các vị Đại Thanh Văn và vô lượng Thế chủ nhóm họp. Phật dùng đại bi nhập tam-muội Sư Tử Tần Thân chiếu khắp mười phương thế giới trang nghiêm, mỗi thế giới đều có bất khả thuyết sát vi trần số Bồ-tát đến dự hội, mỗi vị đều hiện thần biến cúng dường.
Các vị Đại Thanh Văn chẳng thấy, chẳng biết. …Sau đó Bồ-tát Văn-thù và đại chúng giã từ Đức Phật để đi về phương Nam. Tôn giả Xá-lợi-phất cùng 6000 Tỳ-kheo cũng nhờ thần lực Phật phát tâm cùng đi về phương Nam”  (Trích từ TRUNG QUỐC PHẬT GIÁO tập 3)
Trong Phần “Giới thiệu kinh Hoa Ngiêm” của HT Tiến Sĩ Thích Trí Quảng (Sách Phật Học Cơ Bản tập 3,  Phần II, Bài 7) còn ghi rõ: “Theo phán giáo của Thiên Thai Trí Giả đại sư, sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài thuyết kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày và sau đó Ngài đến Lộc Uyển độ 5 anh em Kiều Trần Như, bắt đầu lập giáo khai tông”
Trước đó HT Tiến sĩ cũng đã ghi nhận: “… Ðến phần kết của hội Hoa Nghiêm vẫn có mặt Xá Lợi Phật, Mục Kiền Liên, A Nan, nhưng các Ngài không nghe được. Ý này được kinh diễn tả rằng chúng Thanh Văn như người mù, người điếc dự hội.”
Câu hỏi: Căn cứ vào đâu để Thiên Thai Trí Giả đại sư phán rằng Phật thuyết kinh Hoa Ngiêm trong 21 ngày khi Ngài vừa thành đạo?
Câu hỏi: Nếu pháp hội Hoa Nghiêm được “Phật” thuyết trong vòng 21 ngày sau khi Ngài giác ngộ, lúc này năm anh em Kiều Trần Như còn chưa có; vậy lấy đâu ra có “các vị Đại Thanh Văn” để bảo rằng họ chẳng thấy, chẳng biết?
Câu hỏi: Một “Đại Thanh Văn” còn chưa có, lấy đâu ra có “Tôn giả Xá Lợi Phất cùng 6000 Tỳ-kheo” phải nhờ thần lực Phật mới đi được?
Phải chăng vì cố tâm muốn hạ uy tín của các Tỳ-kheo Thanh Văn nên những người sáng tác và kết tập kinh Hoa Nghiêm đã quên những điều dễ thấy, để rồi mắc phải những sai lầm cơ bản thô thiển như vậy?
Câu hỏi: 21 ngày chưa có năm anh em ông Kiều Trần Như, chắc chắn ngài A Nan cũng không thể có mặt trong pháp hội Hoa Nghiêm để "Như vầy tôi nghe". Nếu ngài A Nan được nghe lại hoặc hội Hoa Nghiêm diễn tiến sau này thì tại sao trong kinh Nikaya không hề có một dòng nào, người nào nhắc đến sự kiện “quan trọng đặc biệt” này?
Phải chăng những người tin vào những điều vô lý này mới chính là những người mù, người điếc, tin càn, tin bậy?
Câu hỏi: Nếu ngài A Nan “quên”, chẳng lẽ Đức Phật và các Thánh Tăng A La Hán khác cũng quên hay sao?
Xin nói thêm, trong Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Ud I. 1,2,3) còn ghi rõ, sau khi chứng đạo, Đức Phật đã quán thuận ứng, nghịch ứng, thuận ứng-nghịch ứng pháp Nhân Duyên mà thôi, không một ấn tích nhỏ nào liên hệ đến “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh” mà tu sĩ gốc Bà-la-môn Long Thọ đã kết tập.
Câu hỏi: Nếu pháp hội Hoa Nghiêm thứ chín do người đời sau thêm vào để phỉ báng Thánh Tăng A La Hán, hẳn kẻ này còn sợ gì không dám bịa ra các pháp hội khác, các kinh-luật-luận khác nhằm lũng đoạn, phân hoá, phá hoại Phật pháp?
Những ai tin các tài liệu này hãy chứng minh các tổ sư gốc Bà-la-môn là đáng tin cậy? Các Tam Tạng do họ giới thiệu là thực sự từ Đức Phật truyền lại? Nếu không, họ mới chính là những người mù câm điếc trong Chánh Pháp của Đức Thế Tôn
TẠP CHÍ HỌC PHẬT CHÁNH TRUYỀN

KẢI BIÊN KIN' A HÀM KŨQ QUY HIỂM N'Ư KẢI BIÊN CỮ VIỆT


KẢI BIÊN KIN' A HÀM KŨQ QUY HIỂM N'Ư KẢI BIÊN CỮ VIỆT (Tạm dịch: Cải biên kinh A Hàm cũng nguy hiểm như cải biên Tiếng Việt)
Nhiều người đang xôn xao về việc cải biên chữ Việt. Đối với Phật tử có một cải biên NGUY HIỂM HƠN NHIỀU nhưng không được biết tới, đó là việc cải biên Chánh Kinh của Phật, từ Chánh thành tà, từ Chân thành ngụy. Bài so sánh hai bản kinh tương đương dưới đây sẽ nêu rõ thực trạng trên.
PHÂN TÍCH SO SÁNH
Hai kinh tương đương: "Ðại kinh Sakuludāyi" (số 77, Trung Bộ Pali) & kinh "Tiễn Mao" (số 207, Trung A Hàm)
Chánh kinh Pāli: “Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
Lúc bấy giờ, có rất nhiều vị du sĩ, có thời danh, có danh tiếng trú ở Moranivapa (Khổng Tước Lâm), tu viện các du sĩ, như Anugara, Varadhara, và du sĩ Sakuludayi cùng với các vị du sĩ thời danh, danh tiếng khác.
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Rājagaha để khất thực. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Rājagaha. Ta hãy đến Moranivapa, tu viện các du sĩ, đi đến gặp du sĩ Sakuludayi". Rồi Thế Tôn đi đến Moranivapa, tu viện các du sĩ.”
Tà kinh A Hàm: “Tôi nghe như vầy: Một thời Phật du hóa tại thành Vương xá, ở Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người đang an cư mùa mưa.
Bấy giờ trải qua đêm, lúc vừa sáng, Thế Tôn mang y cầm bát vào thành Vương xá để khất thực. Khất thực xong, thu dọn y bát, rửa chân tay, Ngài khoác y ni-sư-đàn trên vai và đi đến vườn Dị học trong rừng Khổng tước.” 
Phân tích so sánh: Lại một sự cải biên đầy thâm ý của A Hàm! Một người không xem trọng giới luật của Phật mới không thấy được sự vô lý của kinh A Hàm.
Đang mùa an cư lại đi du hoá là sao? Chi tiết khác thường bịa đặt thêm này có gây ngộ nhận rằng chính Bụt A Hàm đã nêu gương phạm luật không? Đã thế Đức Phật cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị lại du hoá trong vườn Ca-lan-đà mới lạ! Hẳn các ngài phải thu nhỏ lại như kiến mới du hoá được.
Chỉ có điều những phi lý này không chỉ có trong một bài kinh mà lập lại nhiều lần trong tam tạng Đại giáo, như thể muốn đánh đố trí tuệ thẩm sát của những người thọ trì Tam tạng Đại giáo. Khốn thay, sự thẩm sát này lại cho thấy những người thọ trì tam tạng Đại giáo lại không có một chút trí tuệ nào cả, cho nên những điều quá ư vô lý đã tồn tại và truyền thừa qua biết bao thế hệ.
Trong chánh kinh Pāli, thường có hình ảnh Tỳ-kheo rửa tay trước và sau khi thọ trai, còn A Hàm thì “khất thực xong (không biết có ăn chưa lại) thu dọn y bát, rửa (cả) chân tay”. Đã thế từ “ni-sư-đàn” là cả một thâm ý chơi chữ hèn hạ của những kẻ gian hiểm (Theo Pāli, từ “nisīdanaṃ” có nghĩa là y lót ngồi). Người đọc hãy tự mình nhận thức thâm ý thấu cáy của các nhà biên dịch gián điệp.
***
Chánh kinh Pāli: “Lúc bấy giờ du sĩ Sakuludayi đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố úy luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luận, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô hiện hữu luận.
Tà kinh A Hàm: “Tại rừng Khổng tước, trong vườn Dị học, bấy giờ có một người Dị học tên là Tiễn Mao là một vị danh đức, là bậc Tông chủ, được nhiều người tôn làm Thầy, có tiếng tăm lớn, nhiều người kính trọng ông đang ở giữa đám đông ồn ào, lớn tiếng, âm thanh huyên náo, luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh, như: bàn chuyện vua chúa, bàn chuyện trộm cướp, bàn chuyện đấu tranh, bàn chuyện ăn uống, bàn chuyện áo chăn, bàn chuyện phụ nữ, bàn chuyện đàn bà, bàn chuyện con gái, bàn chuyện dâm nữ, bàn chuyện thế gian, bàn chuyện tà đạo, bàn chuyện trong biển; đại loại như thế, chúng tụ tập luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh.”
Phân tích so sánh: So sánh những “vấn đề phù phiếm” trong Pali và “những đề tài súc sanh” trong A Hàm thấy rõ khác nhau rất nhiều và có phần nguy hiểm.
Ai đó đem đoạn kinh A Hàm này sàm tấu cho các vua chúa hoặc phụ nữ, đàn bà, con gái, kẻ ngoại học nước sở tại đọc, họ sẽ nghĩ thế nào khi bị đánh đồng với súc sanh? Đương nhiên là bất mãn.
Điều bịa thêm này của A Hàm có lợi hay có hại cho Phật giáo? Dĩ nhiên là tai hại.
Các vua chúa kỳ thị Phật giáo có để yên cho Phật tử không? Hẳn nhiên là không rồi.
Nói A Hàm cải biên nguy hiểm là vì vậy.
***
Chánh kinh Pāli: “Thuở xưa, Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Sa-môn Gotama ho (thành tiếng). Một vị đồng Phạm hạnh dùng đầu gối đập (nhẹ) vào người ấy và nói: "Tôn giả hãy lặng tiếng! Tôn giả chớ có làm ồn! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đang thuyết pháp". Trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama.” 
Tà kinh A Hàm: “Bạch Cù-đàm, thuở xưa Sa-môn Cù-đàm đã có lần nói pháp tại đại chúng, vô lượng trăm ngàn người vây quanh. Ngay bấy giờ có một người ngủ mà ngáy. Lại có một người bảo người kia rằng ‘Đừng có ngủ ngáy. Ông không muốn nghe Thế Tôn nói pháp vi diệu như cam lồ sao?’ Người kia liền im lặng không gây tiếng động nữa.”
Phân tích so sánh: Cả hai trích đoạn kinh trên đều ghi lại nhận định của du sĩ ngoại đạo Sakuludayi (Tiễn Mao) về buổi thuyết pháp của Sa-môn Gotama (Cù-đàm) nhưng có sự cải biên thấu cáy của A Hàm.
Thật vậy, vào thời chưa có micro và loa, thuyết pháp cho hàng trăm người còn tin được, chứ thuyết pháp cho đại chúng vô lượng trăm ngàn người làm sao nghe? Đối với những người chưa tin Phật, đọc đoạn kinh A Hàm nêu trên hẳn phải phì cười vì kiểu nói quá đáng đến độ khó tin của “kinh” Phật. Còn người biết suy xét sẽ thấy ngay A Hàm là tà kinh ngụy tạo.
- Trong khi các Tỳ-kheo trong chánh kinh Pali tôn trọng Phật đến độ một tiếng đằng hắng, một tiếng ho cũng không dám; thế nhưng qua A Hàm có vị lại ngủ gục mà ngáy (?) Hẳn Bụt A Hàm thuyết pháp chán lắm nên mới như thế.
Đã vậy việc “người kia liền im lặng không gây tiếng động nữa” không có nghĩa là người ấy lắng nghe thuyết pháp, mà chỉ là ngủ tiếp không còn ngáy nữa mà thôi. Tà kinh A-hàm đã quá châm biếm, xỏ xiên nhưng qua ngàn năm vẫn không bị nhận diện, không một ai lên tiếng cảnh báo. Vì sao nên nỗi? 
- Trên đây chỉ là vài nét sơ qua để lưu ý một vũ khí trong muôn ngàn vũ khí nguy hiểm khác. Bài kinh “Tiễn Mao” này còn thêm và bớt rất nhiều điểm quan trọng khác nữa, muốn nêu đầy đủ phải có một bài riêng mới phân tích hết được. Xin dành việc này cho những ai có tấm lòng thiết tha với chánh pháp, muốn tiếp tục gạn đục khơi trong, chánh tà phân định. 
TẬP SAN HỌC PHẬT CHÁNH TRUYỀN

TU TRỞ CHỨNG


PATIMOKKHA CÒN, GIÁO PHÁP CÒN



Dù các tổ sư ĐẠI THỪA gốc Bà La Môn có cố tình khiến BẮC TÔNG quên lãng coi thường kinh gốc NIKAYA và DIỆU PHÁP 37 PHẨM TRỢ ĐẠO, bằng các kinh - luật - luận ngụy tạo cải biến. Thế nhưng TẠNG LUẬT PATIMOKKHA vẫn còn thì GIÁO PHÁP CỦA PHẬT THÍCH CA vẫn còn tồn tại. Vì sao?


Vì khi đó các TĂNG NI giữ gìn giới hạnh thanh tịnh đúng theo CHÁNH LUẬT PATIMOKKHA, nên họ sẽ có đủ TUỆ LỰC để thấy rõ đâu là tà kinh, đâu là chánh kinh, đâu là tà đạo, đâu là chánh đạo. Và vì thế Chánh Pháp còn tồn tại nơi những vị này, theo đúng lộ trình của kinh "Bảy Trạm Xe" được tóm tắt như dưới đây:

GIỚI thanh tịnh --> TÂM thanh tịnh --> TRI KIẾN thanh tịnh --> ĐOẠN NGHI thanh tịnh --> ĐẠO, PHI ĐẠO TRI KIẾN thanh tịnh --> ĐẠO TRI KIẾN GIẢI THOÁT thanh tịnh --> TRI KIẾN GIẢI THOÁT

THÍCH CHÁNH LUẬT

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

HỘ PHÁP CẤP CÔ ĐỘC

BÁC BỎ ngụy pháp là góp phần củng cố CHÁNH PHÁP



HỘ PHÁP VAJJIYAMAHITA


BÁC BỎ ngụy pháp là góp phần củng cố CHÁNH PHÁP



GIỚI XÀI ĐỒ "CHÙA"


DẪN: Đây đó nhiều người vẫn thấy vài tăng ni quý tộc đi xe hơi, dùng hàng hiệu đắt tiền, tài sản không kém đại gia. Nhờ đâu? Nhờ của Tam Bảo chứ đâu. Nhưng chiếu theo Bồ-tát giới họ chỉ bị tội nhẹ mà thôi. Tất nhiên kẻ chế ra Bồ-tát giới không nói huỵch tẹt ra như vậy, mà phải làm bộ đạo đức giả, có vậy họ mới qua mặt những kẻ ngây thơ cả tin. Mọi người hãy suy ngẫm kỹ nguyên văn giới khinh 27 và phần phân tích phản biện để thấy rõ hơn.

Nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 27: “- GIỚI THỌ BIỆT THỈNH 53
Nếu Phật tử; tất cả chẳng được nhận của cúng dường dành riêng về mình. Của cúng dưòng nầy thuộc về thập phương Tăng, nếu nhận riêng thời là lấy của thập phương Tăng đem về phần mình. Và của vật trong tám phước điền: Chư Phật, Thánh nhân, các Sư Tăng, cha, mẹ, và người bệnh, tự mình riêng nhận dùng. Phật tử nầy phạm “khinh cấu tội”.

Chú thích 53 (tr.35 của Bồ-tát giới): “Đây là cố ý tìm cách cho thí chủ đem cúng riêng cho mình nên phạm tội khinh. Nếu đã thuộc về chư Tăng, Tam Bảo, mà đi dành riêng về phần mình, thời thuộc về tội trọng thứ hai.”

PHÂN TÍCH PHẢN BIỆN

Xin hỏi các Đại Thừa sư, Bồ-tát giới có phải do Bụt Lô Xá Na ‘uỷ quyền’ cho Bụt Thích Ca ban đặt không? Nếu vậy, những luật định chính thức này phải có giá trị gấp ngàn vạn lần các chú thích của kẻ đời sau.

Theo đây, Bồ-tát giới phán rõ ràng lấy vật thuộc ‘tám phước điền’ chỉ phạm ‘khinh cấu tội’ là... khinh cấu tội, tức là tội khinh, NHẸ hơn tội trọng. Còn chú thích phán như thế nào là chuyện của chú thích. Điều cần lưu ý là không phải tất cả các bản Bồ-tát giới đều có chú thích thống nhất giống nhau. Điều này cho thấy chú thích trong bản dịch này chỉ là ý kiến riêng thêm vào của KẺ ĐỜI SAU nhằm khỏa lấp đi sự TAI QUÁI của Bồ-tát giới.

Giới biệt thọ thỉnh thứ 27 này TAI QUÁI ở chỗ nào? Thật dễ hiểu, chiếu theo luật này một Bồ-tát con ma mãnh sẽ không ngán sợ tội khinh, sẵn sàng lấy của ‘tám phước điền’ để hưởng thụ. Khi ấy các chùa Đại Thừa chỉ còn có nước mạt. Đây là lý do vì sao kẻ vẽ ra Bồ-tát giới ban luật 27, lấy của ‘tám phước điền’ chỉ bị tội khinh.

Tất nhiên, vài kẻ đời sau cũng thấy được sự nguy hại này, cho nên phải vẽ ra chú thích 53 để cứu nguy cho hội chúng mình không bị mạt vì ‘giới thọ biệt thỉnh’.

Thế nhưng, các Bồ-tát con cứ chiếu theo Bồ-tát giới mà thi hành, cứ việc lấy của ‘tám phước điền’ và trưng Bồ-tát giới ra để được nhẹ tội. Ai nói ra nói vào, quý vị chỉ cần hỏi các người có phải là Bụt Lô Xá Na không, có phải là Bụt Thích Ca Đại Thừa không mà đính chính vớ vẩn.

Còn nếu giới luật của Bụt Đại Thừa mà cần phải bào chữa, bổ khuyết thì dứt khoát nó không phải là giới luật của đấng Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác rồi. Dẹp bỏ là vừa!
Ai đó còn phân vân chưa dám dẹp bỏ, mời đọc lại vài giới khinh khác của Bồ-tát giới để mạnh dạn dứt khoát với ngụy giới phá hoại Đạo Phật

Trích giới khinh thứ 1: "Mỗi sự đều đúng như pháp mà cúng dường, hoặc tự bán thân cho đến quốc thành con cái, cùng bảy báu trăm vật để cung cấp các bậc ấy. Nếu Phật tử lại sinh lòng kiêu mạn, sân hận, ngu si, không chịu tiếp rước lạy chào, cho đến không chịu y theo pháp mà CÚNG DƯỜNG, Phật tử này phạm «khinh cấu tội».”

Trích giới khinh thứ 6: "Mỗi ngày ba thời cúng dường, trăm thức uống ăn, giường ghế, thuốc men, tất cả đồ cần dùng giá đáng ba lượng vàng đều phải cấp hộ cho pháp sư."

Trích giới khinh thứ 26: "Nếu tự mình không có, thì phải bán thân, bán con cái, lóc thịt thân mình mà bán, để sắm đồ cung cấp cho những khách tăng ấy."


TẬP SAN LUẬT HỌC