Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Sợ nhân hay sợ quả?


Hai cư sĩ ngồi nói chuyện với nhau. Cư sĩ Nam Tông hỏi cư sĩ Tiểu Thừa:
_ Này ông, có vị dạy rằng: “Bồ-tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Ông nghĩ sao?
_ Còn gì nữa?
_ Chỉ vậy thôi!
_ Lời dạy không đầy đủ chứng tỏ trí tuệ còn nông cạn, tri kiến còn phiến diện.
_ Nghĩa là sao?
_ Người nói câu ấy chỉ biết có nhân quả ác, bất thiện mà thôi.
_ Thiếu chi mô?
_ Còn nhân lành thiện, quả an vui giải thoát tính sao? Chẳng lẽ Bồ-tát và chúng sanh cũng sợ à?
_ Ừ nhỉ, lời dạy một chiều, phiến diện.
_ Chừ ông sợ nhân hay sợ quả?
_ Không sợ nhân cũng chẳng sợ quả, khi nhân thiện lành được quả hỷ lạc. Phải sợ cả quả lẫn nhân, khi nhân ác hại gây quả khổ đau.
_ Ông dạy đầy đủ rồi đó! Nhưng này, nếu chỉ sợ nhân không sợ quả, thì sao?
_ Thì cứ đưa mặt cho người ta tát. Quả báo đó có nguyên nhân gì đâu mà sợ?
_ Nếu không sợ nhân chỉ sợ quả, mần răng?
_ Cứ tát bừa mọi người rồi chạy trốn!
_ Dạy hay nhỉ?
_ Pháp cao siêu mờ!
Thiện Trí Thức

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016

Tấn sĩ Phật Học


Ảnh Internet

Một đoàn viên trong Gia Đình Phật Tử thế hệ mới hỏi vị huynh trưởng cũng là thầy giáo dạy sử:
_ Thưa huynh trưởng, có phải đạo Bà-la-môn có trước Đạo Phật?
_ Đúng vậy! Huynh trưởng trả lời.
Em thành viên hỏi tiếp:
_ Thưa, có phải truyền thống ăn chay cũng có trong Bà-la-môn giáo?
_ Không sai! Huynh trưởng xác  nhận
_ Thưa, có phải xã hội Ấn Độ ngày nay vẫn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ củađạo Bà-la-môn và nhiều người cũng ăn chay?
_ Thực thế! Huynh trưởng gật đầu.
Em thành viên thắc mắc:
_ Vậy tại sao một du tăng học sinh thấy tại Ấn Độ có nhiều nhà hàng chay lại phán rằng đó là dấu tích của Phật Giáo còn để lại trong xã hội Ấn Độ?
Vị huynh trưởng vỗ vai bạn đạo trẻ:
_ À! Đó là vì nói theo kinh Pháp Môn Căn Bản, vị sinh viên ấy đã tưởng tri “đạo Bà-la-môn là Đạo Phật”.
Em thành viên mau miệng tiếp lời:
_ Và không biết tuệ tri “Đạo Phật là Đạo Phật”, cũng không biết tuệ tri “Tam tịnh nhục là tam tịnh nhục”?
Huynh trưởng mỉm cười sách tấn:
_ Em ráng học giỏi, mai mốt thi lấy bằng “Tấn sĩ Phật học”!
SV Học Phật

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Tranh luận, tránh luận

Ảnh Internet
Một chính trị gia vào tận trong rừng sâu để “lên lớp” cho vị tu sĩ ẩn lâm:
_ Ngài không làm chính trị - đó cũng là một thái độ chính trị.
Tu sĩ mỉm cười:
_ Vô lý! Chẳng lẽ không làm vệ sinh, đó cũng là một thái độ vệ sinh? Không làm tướng cướp, đó cũng là một thái độ tướng cướp? Không làm vũ nữ, đó cũng là thái độ vũ nữ? Xin đừng gắp lửa bỏ tay người.
Vị chính khách bẻ sang hướng khác:
_ Nhưng lịch sử cho thấy tôn giáo và chính trị luôn gắn liền nhau, không thể tách rời.
_ Nếu có như thế thì đó là chuyện của tôn giáo và chính trị. Đạo Phật không phải là tôn giáo, lại càng không phải là chính trị. Đạo Phật là con đường, là nếp sống giải thoát khỏi những điều đó.
Chính trị gia vẫn chưa chịu ngưng:
_ Thế sao có nhiều nhà sư được ca ngợi vì đã tham gia việc quân, việc nước, việc triều chính?
_ Nếu trước đó họ đã trả lại y áo cho Tam Bảo rồi trở ra đời lo thế sự, đây là nghiệp duyên của mỗi người, không nên lạm bàn. Và nếu họ có công đức thuộc “Bốn trọng ân”, người Phật tử cũng phải nhớ ơn họ. Nhưng cần xác định cho rõ: nếu họ còn đắp y mà làm thế sự, thì họ không phải là những tu sĩ đạo Phật làm chính trị, mà là những nhà chính trị mượn áo của đạo Phật. Trong Bát Chánh Đạo không có chánh chính trị, không có chánh quân sự.
_ Nhưng ngài cứ độc trú biệt cư thế này, có lợi ích gì cho ai?
_ Bản thân cuộc sống không màng danh lợi cũng là một bài pháp rồi! Ông không thấy lợi ích cũng phải!
_ Ngài sống ẩn cư trong rừng, có ai biết đến để hỏi pháp?
_ Đừng sợ không ai biết, chỉ sợ hạnh không tròn. Hương của giới thanh tịnh còn ngược gió tung bay nữa kia! Ngược lại, giới hạnh giữ không tròn, ham mê giữa chợ đời, càng dễ bị cuốn trôi. Riêng đối với tôi, có ai đến hỏi đạo thì được, chứ tranh luận thì... xin lỗi, tôi không có thời gian.
Nhà chính trị lại một lần nữa lái đề tài:
_ Giặc ngoại xâm đến đây, ngài có còn thời gian để tu hành?
_ Câu hỏi ấy ông nên dành cho vua quan, cho quân đội. Nhưng ông nên nhớ, tàn ác đến như vua Asoka, khi đã giác ngộ Phật pháp, lại trở thành lương thiện không ai bằng. Chúng tôi tu hành cũng là để duy trì những giá trị hướng thiện tuyệt vời này, để biến thù thành bạn, đổi giặc thành anh em. Tuy vậy, đối với những người đi tìm sự yên tĩnh để chiến đấu với chính bản thân mình, chống bốn lũ giặc sanh-già-bệnh-chết, đôi khi họ xem miệng lưỡi của kẻ khác cũng không thua gì giặc cướp. Trong những trường hợp như vậy, cách tốt nhất là… “tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. 
Vừa nói xong, vị tu sĩ ẩn lâm vội vàng chắp tay xoay người hướng về phía thất liêu, chạy vắt giò lên cổ cứ như bị ma đuổi.  
Vẫn chưa chịu thôi, lần thứ hai vị chính khách rủ thêm người bạn làm luật sư, cả hai cùng tìm đến tận thất của tu sĩ ẩn lâm để nói chuyện cho ra lẽ. Vừa đến nơi, cả hai đã thấy ngay trước cửa thất một tấm bảng lớn với dòng chữ rõ ràng: “TA KHÔNG TRANH LUẬN VỚI ĐỜI vì Ta tôn trọng nhận thức và cuộc sống của người đời, và Ta không bắt người đời theo ý của Ta. CHỈ CÓ ĐỜI TRANH LUẬN VỚI TA vì người đời không tôn trọng nhận thức và cuộc sống của Ta, và còn muốn bắt Ta theo ý của họ. Thật bất công!”.
Cả hai vị khách không mời mà đến nhìn nhau rồi quay lui. Khu rừng lại trở về sự bình yên vốn có của nó.

Ẩn Lâm Đạo Sư
_________________
Ghi Chú:
Trích Kinh Kosambiya, số 48, Trung bộ 1:
“… Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược… ”


Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016

“Đại Sư”?

Liên Trì Đại sư của Đại thừa phán rằng: “Bệnh từ nơi thân sanh. Thân từ nơi nghiệp hiện. Không tạo các ác nghiệp, được Phước quả hiện tiền”.
Thế nhưng Đức Phật Thích Ca lại dạy bệnh từ nhiều nơi sanh: do từ nội thân, do từ ngoại cảnh, do cả hai và cuối cùng là do nghiệp. Thật vậy, Kinh Tương Ưng có bài kệ nói rõ có tám nguyên nhân tạo thọ bệnh:
Mật, niêm dịch và gió,
Sự gặp gỡ các loại nước,
Sự thay đổi thời tiết,
Sự gặp gỡ các nghịch vận,
Sự công kích thình lình,
Nghiệp quả là thứ tám”
(TƯ4, 230)
Vả lại không tạo các ác nghiệp nhưng cũng không biết tạo thiện nghiệp thì Phước làm sao tròn đủ. Cho nên rằng thì là câu của Liên Trì Đại sư phải sửa lại thế này mới đúng:
“Bệnh từ nhiều nơi sanh. Thân từ nơi bệnh khổ. Không tạo ác, sanh thiện; Phước quả mới hiện tiền”!
Liên Chì Sư Đại 

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Tâm bình, thế giới có bình?


Hai vị sa-môn đang ngồi nghỉ mát dưới bóng cây cổ thụ với vẻ thanh nhàn, thái mái. Cả hai cùng thốt lên lời cảm thán:
_ Ôi, sung sướng thay, “tâm bình thế giới bình”!
“Crack… rầm”, một cành cây gẫy, rớt ngay đầu hai nhà tu
Im lặng…
Đang trong thất, vị tu sĩ trưởng vốn có thiên nhĩ thông và thiên nhãn thông nên biết có tai nạn xảy ra. Ngay tức khắc vị sư trưởng lao ra, vừa kéo hai đồng đạo khỏi cành cây vừa lẩm bẩm:
_ Khổ quá! Phật dạy tâm bình rồi thì lo nhập chánh định để giải thoát, chứ đâu có bảo ngồi không tán phét như thế này. Tâm bình mà thế giới có chịu bình đâu?

Bình Tâm
_______________________
Ghi chú: Bài này được viết dựa theo đoạn phim hài ngắn của một đài truyền hình nước ngoài. Phim kết thúc bằng cảnh cành cây gẫy đè cả hai vị tu sĩ với ý phê phán câu “Tâm bình, thế giới bình” của Đại thừa giáo. 

Một câu nói không thực tế, bị phản biện hợp lý; nếu phải dùng luận thuyết để biện hộ, dứt khoát đó không phải là lời nói của Bậc Như Lai A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc. 

Dù câu nói vô lý đến như rứa nhưng các nhà Đại thừa vẫn cứ vô tư trưng dẫn nó khắp nơi, chẳng khác nào khoe khoang sự vô trí của mình. Thế mới khốn! 

Vì sao nên nỗi? Bởi, con Phật nhưng không đọc kinh Phật, đọc toàn kinh Ma cho nên mới có chuyện: tâm ma nhưng cứ tưởng là tâm Phật. Thế mới chết!



Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Đời là bể sướng?


Bắc Đại luận sư nói với Nam Tiểu kinh sư:
_ Với tôi, đời không phải bể khổ mà là bể “sướng”. Vấn đề là phải biết suy nghĩ cho đúng!
_ Muốn biết sướng hay khổ hãy vào nhà thương, hãy ra nghĩa địa mà suy nghĩ!
_ Nghĩ gì?
_ Nghĩ rằng trên đời chỉ có kẻ ngu mới tin rằng mình và những người thân của mình không bao giờ phải nằm những chỗ ấy!
_ Đó là duyên nghiệp của mỗi người. Muôn vật duy tâm tạo!
_ Cho dù là duyên nghiệp và cho dù tâm ông tạo thấy “sướng”, nhưng ông “sướng” cả trên nỗi đau của người khác là vô cảm, dù có suy nghĩ “đúng” cũng là vô lương tâm. Tôi hỏi ông, sanh – già – bệnh – chết – sầu – bi – khổ – ưu – não cũng là sướng ư?
_ Nhưng “sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc… vô khổ tập diệt đạo”
_ Dù miệng các ông nói “vô khổ, hữu sướng”, nhưng tôi và những người khác thấy sanh già bệnh chết “hữu khổ, vô sướng”. Các ông thấy sướng cả trên những nỗi đau của người khác là vô tình, là bất nhân, ông hiểu không!
_ Nhưng ông cứ “đau nỗi đau này đời”, làm sao diệt được khổ cho mình?
_ Trái lại là đằng khác. Ông không thấy khổ thì làm sao diệt được khổ; không thấu cảm nỗi đau cuộc đời, làm sao nỗ lực cứu đời? Các ông cứ ích kỷ chỉ biết “sướng nỗi đau cuộc đời” thời làm sao hiểu được con đường diệt khổ?
_ Muốn hiểu phải thế nào?
_ Phải thấy khổ trước. Ông phải thấu nỗi khổ của mình để không làm khổ mình thêm, mới nỗ lực cứu mình. Ông phải thấu nỗi khổ của người để không làm khổ người nữa, mới nỗ lực cứu người. Thấy đời khổ để rồi mình khổ là kẻ vô trí. Thấy đời khổ mà mình vẫn sướng là kẻ vô tâm. Thấy đời khổ để rồi giúp mình và người cùng thoát khổ mới là bậc Hiền trí Đại tuệ.
_ Ông nói cứ như triết gia ấy!
_ Triết gia không nói như tôi.
_ Như ai?
_ Như ông!   
Nam Tào

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Tu không được. Không tu được. Tu được không.


Tu không được!
Một giai nhân tuyệt sắc ba lần tìm đến vị Thiền sư xin xuất gia. Cả ba lần Thiền sư đều từ chối với một lý do duy nhất:
_ Vì cô quá đẹp, tu không được!
Biết chuyện, sư đệ hỏi sư huynh:
_ Tại sao người đẹp lại không tu được?
Sư huynh nói nhỏ vào tai sư đệ:
_ Không phải cô gái không tu được, mà là thầy trò mình... tu không được.

Không tu được!
Vẫn giai nhân tuyệt sắc ấy, nhưng lần này nàng tìm đến một vị Thiền sư khác, và lại bị từ chối với cùng một điệp khúc:
_ Vì cô quá đẹp, tu không được!
Trở về nhà, người đẹp hóa trang thành kẻ xấu xí như Chung Vô Diệm. Sau khi được xuất gia, dù với dung sắc “ma chê quỷ chạy” nhưng cô gái đã tận dụng tất cả kỹ xảo của thanh-hương-vị-xúc cùng những vũ khí mạnh của phái yếu nhằm cưa đổ vị Thiền sư. Cuối cùng vị thầy lâu ngày “cường dương thiếu âm” đã bị khuất phục và sa ngã. Đến lúc đó cô gái lên tiếng:
_ Hóa ra, chuyện Tề Tuyên Vương trong khi thiếu người đẹp vẫn lang chạ với Chung Vô Diệm là có thật. Đẹp quá tu không được, nhưng xấu quá vẫn làm cho không tu được đấy, thưa các cụ dê già non dạ!
Nói xong, cô gái hiện nguyên hình thành mỹ nữ tuyệt trần và quày quả bước đi. Vị thiền sư quay đầu nhìn lại, giật mình tỉnh ngộ.

Tu được không?
Hai cô gái ngồi nói chuyện với nhau. Cô thứ nhất:
_ Này chị, có cô gái ba lần đến xin một vị thầy xuất gia nhưng đều không được.
Cô thứ hai ra vẻ rành rẽ:
_ Vì cô ta phạm năm đại tội vô gián?
_ Không phải!
_ Do cô ta bị các chứng bệnh nan y truyền nhiễm?
_ Không đúng.
_ Hay bị điên loạn?
_ Không hề.
_ Chắc bị mắc nợ?
_ Không luôn.
_ Hay cô ta còn quá nhỏ, cha mẹ chưa cho phép?
_ Đâu phải.
_ Hay cô ta quá lăng loàn trắc nết, không thể dạy dỗ?
_ Cũng không.
Cô thứ hai lắc đầu:
_ Chịu, không đoán ra. Vì lý do gì?
_ Vì cô ta quá... đẹp.  
_ Trời đất! Đẹp đâu phải là một cái tội. Đức Phật còn có 32 tướng tốt nữa kia.
_ Ấy thế mà để được xuất gia, cô gái đã phải hủy hoại nhan sắc của mình.
_ Quỷ thần thiên địa ơi, tu gì ác dzậy! Chúng ta không nên quá luyến ái sắc thân để rồi khổ vì nó, nhưng cũng không được xem thường huỷ hoại nó để rồi rơi vào cái khổ thứ hai, cực đoan thứ hai.
_ Cô gái không theo đúng chánh đạo ư?
_ Chứ còn gì nữa! Đạo Phật chủ trương tiêu diệt lòng đam mê sắc đẹp bằng cách quán bất tịnh, quán vô thường và không trang điểm, chứ đâu có chủ trương tiêu diệt sắc đẹp. Cứ thế, chẳng lẽ những người xấu xí là may mắn nhất và cũng chỉ có họ mới tu được thôi sao? Nếu sắc thân cản trở tu hành như vậy, sao mấy ông thầy không tự hủy mình đi để tu cho tiện?
_ Theo chị, những người cứ nhắm mắt hủy hoại sắc thân có tu theo đạo trí tuệ được không?
_ Không tu được và cũng tu không được!
_ Nghĩa là sao?
_ Cô gái tự hủy mình không tu được, và cả hội chúng ủng hộ cô ta cũng tu không được.
_ Vì sao?
_ Cả hai đều dại!
Pháp Đạt

_________________
Pháp Trích Lục:
Kinh Esukàrì, TB2, 96
Đức Thế Tôn dạy cho Bà-la-môn Esukari:
“Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì sanh trong một gia đình cao quý. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì sanh trong một gia đình cao quý. Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì nhan sắc thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì nhan sắc thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì tài sản thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì tài sản thù thắng.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người với nhan sắc thù thắng, sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, Ta không nói trở thành tốt hơn vì nhan sắc thù thắng.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người với nhan sắc thù thắngtừ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Do vậy, Ta không nói trở thành xấu hơn vì nhan sắc thù thắng”.


Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Tái sanh kỳ lạ!

Sau giờ học về lịch sử tôn giáo, hai sinh viên ngồi nói chuyện với nhau. Sinh viên áo lam đặt vấn đề:
_ Trong một cuốn sách (1)  có tác giả nêu lên vài trường hợp thai sanh kỳ lạ: chồng vuốt tay vào bụng vợ - mang thai, rết bò ngang bụng cũng mang thai. Lại thêm chuyện con nai cái uống phải nước tiểu chứa tinh dịch của đạo sĩ cũng mang thai, rồi còn đẻ ra con người nữa chứ (2). Thật không sao hiểu nổi!
Sinh viên áo trắng chép miệng lắc đầu:
_ Điên thật! Giữa thời đại khoa học này mà vẫn còn những người tin vào những điều nhảm nhí như thế. Ngay trong kinh điển gốc, từ thuở xa xưa người ta còn biết rõ có ba yếu tố hình thành bào thai: cha mẹ giao hợp, cơ thể người mẹ trong thời kỳ có thể thụ thai và hương ấm hiện tiền. Vậy mà…
_ Vậy mà có những người giữa thời đại văn minh tiến bộ nhưng không dám tin vào thực tế, cũng chẳng tin vào chánh kinh phản ánh đúng thực tế, lại đi tin vào những kinh văn ngụy tạo, những chú giải hoang đường của các luận sư gián điệp.
_ Hóa ra họ có hơn gì những người tin rằng con người được tạo ra từ xương sườn của Thượng đế. 
_ Cho nên có người đã nói: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại”.
_ Phật giáo cũng thế ư?
_ Đạo Phật không phải là Phật giáo. Đạo Phật là con đường, là nếp sống theo Bát Chánh Đạo chứ không phải tôn giáo với những tín ngưỡng siêu hình.
_ Và không phải để dành cho những kẻ tà tín, dị đoan?
_ Đương nhiên!
_ Cậu biết điều ấy từ đâu?
_ Từ chánh Kinh của Phật, không phải từ chú giải!
_ Cậu đúng là sinh viên tôn giáo thời @!
Phó Sinh Viên
____________________
(1) Sách “Chánh Kiến và Nghiệp”, Thiền sư Ledi Sayadaw và nhiều tác giả khác, TK. Pháp Thông dịch, NXB Văn Hoá Sài Gòn -2006.
(2) Chuyện này trong Tiền thân Alambusà số 523, Tiểu bộ IX, được kết tập về sau.
_______________________
PHÁP TRÍCH LỤC:
Trích Đại Kinh Đoạn Tận Ái, số 38, Trung Bộ 1
Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.”
Trích kinh Assalayna, số 93, Trung Bộ 2:
Đức Phật thuật lại cho thanh niên Bà-la-môn  Assalayana: “…Rồi này Assalayana, bảy ẩn sĩ Bà-la-môn đến đảnh lễ ẩn sĩ Asita Devala. Rồi ẩn sĩ Asita Devala nói với bảy ẩn sĩ Bà-la-môn:
"-- Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết nhập thai là như thế nào?"
"-- Thưa Tôn giả, chúng con biết nhập thai như thế này. Ở đây, mẹ cha phải giao hợp, người mẹ phải trong thời (có thể thọ sanh), hương ấm (gandhabha)phải hiện hữu, ba sự như vậy có hòa hợp, nhập thai mới thành tựu"”.
Thừa tự Pháp trích lục: 
Đức Phật đã dạy rõ sự hình thành bào thai như thế, và bảy vị ẩn sĩ xa xưa đã biết như thế, ấy vậy mà những người đệ tử Phật thời đại @ lại không biết như thế, trái lại đi tin theo những chú giải phi thực tế, hoang đường, vớ vẩn.
Cũng cần lưu ý thêm, ngay cả những bài kinh được xem như “nguyên thủy” nhưng được kết tập về sau, như chuyện “Tiền thân Alambusà”, số 523 chẳng hạn, cũng cần phải xem xét cẩn trọng, không vội tin ngay. Có vậy những người học Phật tin theo Đức Phật mới tránh khỏi những tà kiến do những kẻ ác tâm phá hoại ngầm gây ra.
Đúng như Bậc Thầy Trời Người đã dạy:
“2. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.” (Trích Kinh Tăng Chi tập 1, Chương 2, III. Phẩm Người Ngu)
Do vậy, người Phật tử tin theo Đức Phật nhưng nhắm mắt tin theo tất cả những “Như vầy tôi nghe” ngụy tạo, hẳn cũng mang lấy tà kiến do những kẻ độc ác với tâm đầy sân hận gieo rắc trong chính Phật giáo để rồi phải đọa vào địa ngục hoặc súc sanh. “Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh”. (S.iv,306)
Cẩn thận không bao giờ thừa, nhất là đối với những lời dạy của Bậc Đạo Sư Minh Hạnh Túc, nhất là trong cuộc đấu tranh ý thức hệ tôn giáo đầy những yêu tinh quỷ quái.

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Xin một câu


Một nhóm các tu sĩ trẻ tìm đến vấn đạo vị trưởng lão giới hạnh và tinh thông Kinh Luật. Sau khi tất cả đảnh lễ vị trưởng lão xong, một đại diện tân Tỳ-kheo thưa hỏi:
_ Bạch ngài, nếu phải nói một câu cho thế hệ trẻ, xin ngài từ bi giáo giới.
Vị trưởng lão nghiêm giọng:
_ “Này các Tỳ-kheo, các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”.
Vị tu sĩ trẻ khác chắp tay:
_ Thưa, đó là lời giáo giới cuối cùng của Đức Thế Tôn trước lúc Ngài nhập Niết Bàn.
Trưởng lão gật đầu:
_ Đúng vậy, vì thế nó đặc biệt quan trọng và tất cả đệ tử Phật Thích Ca phải ghi nhớ và thực hành.
_ Dạ, xin vâng. 
Các tu sĩ trẻ hoan hỷ tín thọ lời vị trưởng lão.
Tầm Sư

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2016

Xin một chữ

Mt người t phương xa gi thư đến các v hu trách xin mt chđể tu.
- Thin sư đáp: Mt ch "Tnh" hoc "X" [1].
- T Mt Tông phán: Chú”.
- Thy Tnh Độ khuyên: A-di-đà”.
- Sư MiếĐin viết: Vipasana.
- Tăng Thái Lan nói: “Buddtho”.
- Chuyn Luân Vương nhc: Nikaya.
Quý v theo ai? Nếu ngườy xin hai ch để tu, quý v cho hai chữ gì?
____________________________________
[1] Xem Nhặt Lá Bồ Đề 1, HT Thích Thanh Từ. 
Ghi chú: Nếu “tỉnh” là tỉnh thức, tỉnh giác; vậy một tên ăn trộm không mê ngủ, đang tỉnh thức tỉnh giác, vậy y cũng đang tu à? Còn nếu “Xả” là xả bỏ, thì Đức Phật lại dạy: “Tỷ-kheo siêng tu tập Tăng Thượng Tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng xả, thời có sự kiện tâm vị ấy không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc” (AN III:100). Hẳn, thiền sư TTT vẫn còn mê chứ chưa ngộ. Vậy mà đã có không ít người nhắm mắt tu theo ngài. Hu..hu..hu…

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

Duy gì thị nghiệp?


Thần Hộ Pháp “đằng vân giá vũ” tìm đến thần Hộ Tự để thanh tra về chuyện thời sự. Cả hai cùng ngồi làm việc trong khuôn viên trường Siêu Cấp Phật Học. Thần Hộ Pháp lên tiếng hỏi:
_ Này ông, tại sao dạo này chùa của ông có phong trào Tăng Ni đua nhau đi lấy bằng tiến sĩ, cử nhân Phật học và thế học vậy hả?
Thần Hộ Tự không dấu vẻ tự hào:
_ Vì họ “Duy Tuệ thị nghiệp”!
_ Nhưng không có Định, làm sao có tuệ?
_ Ờ... thì để tôi nhắc họ thêm “Duy Định, duy Tuệ thị nghiệp”.
_ Nhưng không có Giới, làm sao có định?
_ Ừ... thì nhắc thêm họ phải “Duy Giới, duy Định, duy Tuệ thị nghiệp”chứ sao.
_ Nhưng ham lấy bằng cấp, dồn sức học thi, trả bài, viết luận văn, làm luận án còn thì giờ đâu tu tập để biết thế nào là Tam Vô Lậu Học?
_ À... thì tôi phải cảnh giác họ “Không duy bằng cấp, duy học vị thị nghiệp” chứ sao.
_ Ông nên nhớ, cho dù là bác học, tiến sĩ, giáo sư, bác sĩ trí thức đến đâu chăng nữa, nhưng cứ ôm chặt đức tin tôn giáo, thì họ cũng chẳng khác gì mấy đứa con nít cứ ôm chặt lấy bình sữa nằm ngọ ngoạy trong nôi. Cả hai đều ngây thơ như nhau.
_ Ngài nói hơi quá!
_ Ông không tin, hãy nhìn ra bên ngoài sẽ thấy. Đã có không ít các nhà khoa học trí thức vì quá tin tưởng vào giáo lý của mình, sẵn sàng làm thừa sai cho các ông giáo chủ. Thậm chí họ còn chế cả thuốc độc, vũ khí giết người nữa đấy.
_ Vậy, chẳng lẽ ngài phản đối chuyện tăng ni học tập Phật Pháp?
_ Trái lại là đàng khác. Họ cứ là sinh viên để rồi trở thành tu sĩ, chứ đừng biến tu sĩ trở thành sinh viên, uổng đời. Tôi mong sao trước khi nhập đạo họ lấy hai ba cái bằng tiến sĩ ngoài đời, để rồi xuất gia thi ba bằng “hậu tiến sĩ” của Phật.
_ Bằng gì nữa?
_ Bằng Giới, bằng Định, bằng Tuệ. Vì thế ông và tôi cần khuyến khích họ phải tu tập Phật Pháp. Phải “Duy Bốn Diệu Đế, duy Thánh Giới Luật, duy Thánh Thiền Định, duy Thánh Trí Tuệ, duy Thánh Hộ Trì Các Căn, duy Thánh Chánh Niệm Tỉnh Giác, duy Tám Chánh Đạo, duy Bốn Niệm Xứ, duy Bốn Chánh Cần, duy Bốn Như Ý Túc, duy Năm Căn, duy Năm Lực, duy Bảy Giác Chi, duy Định Niệm Hơi Thở, duy Chỉ-Quán song hành...”. Được vậy Tăng Ni mới giữ mình trong thiện pháp, mới duy trì được Chánh Pháp.
_ Tóm lại ý ngài muốn nói các Tăng Ni phải học để tu, tu để giải thoát; chứ không phải học để lấy bằng cấp, học vị, để dính mắc vì nó?
_ Đúng vậy!
_ Và họ phải phân biệt “trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam)” [1]nhưng kiến thức thì chỉ có văn là đủ.
_ Thật vậy! Một khi họ đã liễu tri giải thoát thực sự, họ còn có thể dạy lại cho các học giả, các sinh viên khoa Phật học thế nào là chánh Phật Pháp, thế nào là con đường giải thoát khổ đau thiết thực.
_ Và nhắc nhở các nhà trí thức “Kiến ấy như vậy được sanh, được tác thành (hữu vi) do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ” [2]
_ Ông có thể lên chức, đảm trách nhiệm vụ của tôi rồi đấy!
Nói xong, thần Hộ Pháp từ giã thần Hộ Tự rồi xoay mình biến mất.

Pháp Hộ

_________________________________
[1] Đại Kinh Phương Quảng, Trung Bộ 1.
[2] Kinh Tăng Chi tập 4, tr. 494