Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

Giới Quang Thần Chưởng

Giới quang thần chưởng
Kim Zung Châm
Nguyên trên núi Phật Gia có hai nhà sư: sư Đại tuổi mùi, còn sư Tiểu tuổi… sư tử. Nhân có duyên sự, cả hai cùng đi sang chùa làng bên cạnh. Trên đường đi, sư Đại ỷ mình tài cao trí tuệ siêu quần, nên luôn miệng chê sư Tiểu là trí nhược tài hèn, chấp nê giới luật.
Cả hai đến chỗ ngã tư đường lầy, thấy vũng nước nhỏ và một cô gái trẻ đẹp đang loay hoay tìm cách vượt qua. Sư Đại liền nhanh tay phá chấp, tranh thủ bế sốc cô gái rồi phóng người nhảy qua vũng nước. Nhẹ nhàng đặt cô gái xuống, sư Đại thản nhiên bước tiếp.
Chiều tối về lại chùa, sư Tiểu khởi tâm từ bi muốn thi ân cứu giúp sư Đại, liền xuất khẩu thành chiêu “giới tịnh lạc trú”, nhắc nhở sư lớn:
_ Đức Thế Tôn đã tuyên bố: Tỷ-kheo thà ôm cột đồng nung đỏ mà chết còn hơn phá giới ôm nữ nhân. Vì dù vị Tỳ-kheo có chết do ôm cột đồng cháy đỏ cũng không vì thế mà bị đọa vào cõi dữ, trái lại phá giới ôm nữ nhân tất phải chìm đắm dưới địa ngục. Sư Đại không sợ địa ngục à?
Sư Đại đã không sợ thì chớ lại còn dụng thế “tâm bình phi luật” uốnlưỡi phản công:
_ Hừ, ta đã đặt cô gái xuống bên vũng nước từ lâu rồi, chứ có ôm về chùa như sư Tiểu đâu!
Sư Tiểu biết sư Đại đã bị ngấm chất độc phong tình của phái Ma Đăng Già quá nặng. Giờ đây chất độc đã biến thành luồng khí đen phong tỏa khắp não bộ của sư Đại, cho nên ngài mới ăn nói ma le, lắt léo như vậy. Ngay tức thì, sư Tiểu xuống tấn dụng chiêu “gương hạnh thần công”, chuyển nội lực theo bí pháp cách mặt truyền âm, vừa nói nhỏ vào tai sư Đại vừa để ép chất độc ra ngoài:
_ Dám hỏi sư Đại, nếu trong đám đệ tử đi theo sư Đại có một tên rắn mắt, nó cũng bế cô em gái của sư Đại nhưng không nhảy qua vũng nước mà là bế lên giường. Xong việc, nó phủi tay như không có chuyện gì ầm ĩ. Sư Đại trách nó sao dám làm thế, nó cũng chây mặt bảo rằng nó đã đặt cô gái ở lại giường từ lâu rồi, chứ có đem về chùa đâu. Sư Đại nghĩ sao?
Sư Đại bị bất ngờ trước tuyệt chiêu quá lợi hại khiến ngài chới với hồi lâu. Nhưng do vẫn còn bị cảm giác đê mê của độc phong gây ra, ngài bèn quay sang dụng thế “rắn trườn, lươn uốn” né đòn:
_ Giả sử, cô gái té xuống sông chết đuối; ta không ôm, làm sao cứu?
Ngay tức khắc sư Tiểu phản lực:
_ Có cách cứu, không cần ôm. Cứu phải ôm, không có tội. Nhưng ở đây, chỉ là vũng nước chứ không phải dòng sông, cô gái muốn bước qua chứ không chết đuối. Sư Đại đừng lập lờ đánh lận con đen. Tôi nêu ví dụ thực tế để vạch rõ sự ngụy trá của sư Đại, trái lại sư Đại nêu ví dụ phủ nhận thực tế để ngụy trá cho sự phá giới của mình. Đại chỉ đánh lừa được những ai cũng phá giới như Đại; còn với người giới hạnh, đừng hòng!
Sư Đại bị trúng đòn thứ hai cực mạnh khiến rúng động toàn thân. Đến nước này ngài chỉ còn cách vận nội lực vào đan điền, thủ thế kim cang mặt dày, im lặng làm ngơ. Khốn nỗi sư Đại càng cố làm ra vẻ vô tâm bao nhiêu, khuôn mặt ngài lại càng trở nên đen xì, nham nhở bấy nhiêu. Quả thật sư Đại đã không thể ngờ được nội lực của sư Tiểu lại thâm hậu đến như thế.
Với tâm từ quảng đại muốn cứu giúp người anh em của mình, sư Tiểu tiếp tục dụng thế chúng sanh đàm tiếu” điểm ngay huyệt mục-diện-bản-lai, buộc sư Đại phải tẩy não xả trừ độc ma: 
_ Thực ra ái dục của sư Đại còn quá mạnh mẽ, che khuất cả mắt mũi, cho nên sư Đại đã không nhận ra quanh đó có bao nhiêu trai làng cũng đang thèm muốn ôm cô gái như Đại. Nhưng vì họ còn biết thế nào là liêm sỉ, là tự trọng và tôn trọng người khác, vì thế họ vẫn chưa dám ra tay. Cho nên, dù sư Đại đã đặt cô gái xuống, nhưng Đại vẫn không thể bỏ xuống được những ánh mắt khinh bỉ, những lời chê bai miệt thị của bọn họ dành cho sư Đại. 
Phút chốc trên trán sư Đại lấm tấm những giọt mồ hôi lăn dài xuống khuôn mặt đang bị dãn ra như bong bóng xì hơi. Ngay lúc ấy, sư Tiểu liền kết thúc bài pháp thí của mình bằng chiêu giới tuệ song hànhgiúp sư Đại hồi đầu thị ngạn, cải tà quy chánh:
_ Đúng là tham dục quá mạnh đã che mờ trí tuệ của sư Đại. Trước một việc cỏn con đưa một cô gái qua vũng nước nhỏ nhoi mà phải phá giới, hóa ra xưa nay sư Đại chỉ có tà trí mà thôi. Tầm thường như Tiểu đây cũng có đến một ngàn lẻ một cách giúp cho cô gái nhưng vẫn giữ giới thanh tịnh. Thôi đi sư Đại à, tu hành với nhau biết quá mà, xảo ngôn làm gì cơ chứ, mau vào phòng sám hối kẻo địa ngục A-tỳ đang chờ sư Đại đấy!
Sư Tiểu mặc dù nói vậy nhưng vẫn biết chất độc ngũ tình lục dục của phái Ma Đăng Già vô cùng lợi hại. Đến nước này sư Đại chỉ còn có cách phải trở về tận dụng bí pháp chánh tông may ra mới kịp cứu lấy mình.
Nhưng đã quá muộn! Vừa mới nghe đến bốn chữ địa ngục A-tỳ, sư Đại liền so vai rụt cổ rùng mình lè lưỡi. Cùng lúc đó từ dưới bàn chân của sư Đại một luồng khí đen hôi thối nồng nặc bốc lên khiến cho sư lớn phải ba lần rùng mình sởn gai óc. Thoắt một cái, nhà sư thích-bồng-bế đã hiện nguyên hình thành một con dê đực vừa đi vừa kêu la thảm thiết:
_ Behe, behe, beeee… heeeee…  
Kim Zung Châm


Trích trong trang nhà “Quang Duc chấm cơm”
Đường Lầy
Thiền Sư Nhật Muju
Có hai nhà sư cùng thong dong bước xuống một con đường lầy.  Cơn mưa nặng hạt vẫn còn rơi.  Đến khúc đường quẹo, hai người gặp một cô gái xinh xắn trong chiếc áo Kimono và chiếc khăn quàng cổ bằng lụa, đang đứng bên lề đường vì không thể băng qua ngã tư đường lầy được. Lập tức một nhà sư bảo: "Đi nào, cô bé" tức khắc đưa tay nhấc bổng cô gái lên và đưa qua quãng đường lầy.
Nhà sư bạn của anh ta, từ đó không buồn nói một tiếng nào, cho đến khi cả hai dừng lại trong một ngôi chùa.  Rồi không còn chịu đựng được nữa, nhà sư bạn lên tiếng nói với anh ta:
- Chúng ta là những nhà sư, không được phép gần đàn bà, nhất là với những người đàn bà trẻ đẹp. Nguy hiểm lắm! Sao anh lại làm như vậy?
Nhà sư mỉm cười:
- Tôi đã bỏ nàng từ chỗ đó rồi! Anh còn mang nàng theo đấy sao?
(Truyện cổ Phật Giáo Nhật Bản)
Nguồn: trích từ trang nhà Quang Duc chấm cơm
***********
PHÁP LUẬT TRÍC LỤC
] Còn đây là lời Phật dạy trong Kinh Nguyên Thủy
-- Chính Đức Thế Tôn đã xác chứng cho Bà-la-môn Sonadanda: “- Thật như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời” (Kinh Sonadanda, số 4, Trường Bộ 1)
{ Còn đây là lời con Phật thừa tự Pháp trích lục:
“- Thật như vậy, này Bà-con-ma. Này Bà-con-ma, tà tuệ bị phá giới hạnh làm cho bất tịnh, phá giới hạnh bị tà tuệ làm cho bất tịnh. Chỗ nào có phá giới hạnh, chỗ ấy có tà tuệ; chỗ nào có tà tuệ, chỗ ấy có phá giới hạnh. Người phá giới hạnh nhất định có tà tuệ; người có tà tuệ nhất định có phá giới hạnh. Phá giới hạnh và tà tuệ bị xem là tối hạ liệt ở trên đời”
] Còn đây là lời Phật dạy trong Tăng Chi chương 7, số 68, tr.458-69:
Ta tuyên bố cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rõ cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, với một người ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh, đáng nghi ngờ những hành vi che đậy, không phải Sa-môn, nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống Phạm hạnh, nhưng tự nhận sống Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh.
Thật là tốt hơn cho người ấy ôm ấp, ngồi gần hay nằm gần nhóm lửa lớn ấy đang cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ lửa ngọn. Vì cớ sao? Vì do nguyên nhân ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể đi đến chết, hay đi đến gần như chết, nhưng không vì nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Nhưng này các Tỷ-kheo, khi một người ác giới theo ác pháp... tánh tình bất tịnh, ôm ấp, ngồi gần, hay nằm gần tay chân mềm mại non trẻ của người con gái Sát-đế-lỵ, hay người con gái Bà-la-môn, hay người con gái gia chủ; như vậy, này các Tỷ-kheo, khiến cho vị ấy bất hạnh đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục
{ Thừa tự Pháp trích lục:
Một khi Đức Thế Tôn, Đức Chánh Biến Tri thấu suốt nhiều đời kiếp, đã “tuyên bố” như vậy, đã “nói rõ” như vậy thì sự thật chắc chắn phải như vậy, không sai chạy, không thể khác được. Ngài không hù dọa, không nói quá. Chính vì thấy rõ như vậy nên bản thân Ngài và các hoàng thân quốc thích, các đệ tử giàu có chẳng ai thèm quay lại với dục lạc nguy hiểm mặc dù các ngài có thừa điều kiện hưởng thụ. Mỗi Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni cần phải ghi nhớ kỹ lời này để tránh rơi vào đọa xứ địa ngục vì nghe theo ác tuệ phá hạnh.
] Thêm lời dạy này nữa:  “Ở đây, này Bà-la-môn, có Sa-môn hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một cách chơn chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, nhưng hưởng thụ được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu. Vị ấy thích thú, ước muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đây gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô, bị điểm chấm. Này Bà-la-môn, đây gọi là hành Phạm hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không thoát khỏi khổ.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một cách chơn chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, không có hưởng thụ được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu,nhưng cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân...
tuy không cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân, nhưng lấy mắt nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân... tuy không lấy mắt nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân, nhưng nghe tiếng của nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc ngang qua vách, ngang qua hàng rào...
tuy không nghe tiếng của nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc ngang qua vách, ngang qua hàng rào, nhưng nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân...tuy không nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân, nhưng xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công đức...
tuy không xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công đức, nhưng sống Phạm hạnh với tâm nguyện hướng đến một thân chư Thiên, nguyện rằng: "Với giới này hay với giới cấm này, hay với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ thành một Thiên nhân này hay một Thiên nhân khác".
Vị ấy thích thú, ước muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đấy gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô, bị điểm chấm.
Này Bà-la-môn, đấy gọi là hành Phạm hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không giải thoát khỏi khổ  (Bài kinh “Dâm Dục”, Tăng Chi 3, Chương 7, V. Phẩm Đại Tế Đàn, trang 349).
{ Thừa tự Pháp trích lục:
Vị tu sĩ tuy không hành dâm nhưng hưởng thụ “được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu”, hoặc chỉ “cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân”, hoặc chỉ “lấy mắt nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân...”,hoặc chỉ “nghe tiếng của nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc ngang qua vách, ngang qua hàng rào...”, hoặc chỉ “nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân...”, hoặc chỉ “xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công đức...” cũng bị xem là “hành Phạm hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng không giải thoát khỏi khổ”.
Lẽ thường dục vui ít, khổ nhiều, ở đây nguy hiểm lại càng nhiều hơn. Cho nên ly dục là ly khổ, thoát ly dục là thoát ly khổ. Công cuộc giải thoát khổ đau như leo núi, như bơi ngược dòng thác, chỉ cần sảy tay là rớt trở xuống vực, lơi tay bơi là bị cuốn chết chìm.
Mong rằng những đệ tử Phật chân chính ý thức rõ sự nguy hại để nỗ lực tinh tấn cứu mình, cứu người.
] Còn đây là điều luật Tăng Tàn thứ hai, tội xúc chạm với người nữ, trong tạng Luật Patimokkha:
[377]… “Và này các Tỳ-khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: Vị Tỳ-khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ là sự nắm lấy tay, hoặc nắm lấy búi tóc, hoặc sự vuốt ve bất cứ bộ phận nào thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).” 
[378] … - Người nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, ngay cả đứa bé gái mới sanh ngày hôm ấy cho đến bà lão.
[390] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỳ-khưu nọ sờ vào người mẹ do lòng thương mến mẹ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.
- Này Tỳ-khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) màphạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào lúc bấy giờ, có vị Tỳ-khưu nọ sờ vào người con gái ruột do lòng thương mến con gái. ...(như trên)... sờ vào người chị (em) gái do lòng thương mến chị (em) gái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)... Vị ấy đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.
- Này Tỳ-khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) màphạm tội dukkaṭa (tác ác).” (Hết trích)
(Ghi chú: Đoạn Luật trên trích từ tạng Pātimokkha, V. ChươngSaṅghādisesa (tăng tàng), bản dịch của TK Nguyệt ThiênCác trích lục từ Kinh theo bản dịch của HT Thích Minh Châu)
Còn dưới đây là những lời khuyến giáo của Đấng Đạo Sư trước lúc nhập Niết Bàn dành cho các cư sĩ muốn thoát khỏi khổ đau.
] Trích kinh Đại Bát Niết Bàn, số 16, Trường Bộ 1:
“23. Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pataligama:
- Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Này các Gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
24. Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật đượctiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, Thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.” (Hết trích)
{ Thừa tự Pháp trích lục: Tin Phật Thích Ca hay tin vào pháp luật cải biến đời sau của những kẻ ngụy biện chạy theo bản năng dục, phóng dật buông lung, để rồi tự tha hóa hoặc nêu gương xấu cho người theo sau, điều này tùy vào nhận thức của mỗi người.
Nhưng cần ghi nhớ kỹ chánh tin được giải thoát, tà tín tà hành tất phải bị “bất hạnh đau khổ lâu dài, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Nhân danh Công Lý

Ảnh Internet

Trên tờ lịch ngày của một ngôi chùa lớn phát hành ở nước ngoài có bốn câu thế này:

“Một câu A Di Đà
Lòng thiết tha cứu hộ
Kẻ ác nghịch tội đồ
Cũng được về tịnh độ”

Thần Công Lý vấn đạo:.

“Những ai nói câu ấy
Sẽ nghĩ như thế nào
Nếu kẻ ác nghịch đồ
Giết sạch gia đình họ,
Rồi niệm A Di Đà
Thoát ngay về tịnh độ?
Còn bao nạn nhân khác
Không biết gọi Di Đà
Khỏi về lạc quốc ư?
Những ai giết cứ giết,
Những kẻ ác cứ ác,
Về già niệm một câu,
A Di Đà, hết tội?
Công lý và trí tuệ,
Nhân quả và công bằng
Thể hiện ở chỗ nào
Hỡi những người 'độ tịnh'?”

Thích Công Lý

***********

Pháp Cú 165
“Tự mình làm điều ác.
Tự mình làm nhiễm ô.
Tự mình ác không làm.
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình.
Không ai thanh tịnh ai”

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Nhịn ăn chữa bệnh?

Đệ tử Bụt: _ Này ông, có không ít người bị bệnh nghe theo mấy ông thày lang băm miệt vườn bắt nhịn ăn để chữa trị.
Phật tử: _ Có bệnh thì vái tứ phương, gặp phường tà vạy hết đường sống thôi. Tôi là đệ tử Phật Thích Ca, tôi đọc cả tạng Kinh gốc chẳng thấy có chỗ nào Ngài dạy nhịn ăn để chữa bệnh.
Đệ tử Bụt: _ Người ta không đọc Kinh gốc, chỉ thích đọc sách sốc kinh. Có người bị bệnh viêm gan siêu vi B, ông thầy bảo phải nhịn ăn 49 ngày mới khỏi. Ông thày “ní nuận” mình nhịn ăn uống, con vi-rút trong gan không có đồ ăn thức uống, nó sẽ chết trước.
Phật tử: _ Trời đất quỷ thần ơi, con siêu vi-rút nó ăn gan chứ có ăn cơm uống nước như người đâu mà chết. Con vi-rút không chết trước mà coi chừng người chết trước vì nhịn ăn suy kiệt. Người chết nhưng lá gan vẫn còn, con vi rút vẫn sống khỏe chứ làm sao chết được.
Đệ tử Bụt: _ Đúng vậy, cho nên người bị bệnh viêm gan ấy sau khi suýt chết vì nhịn ăn, cuối cùng đã ăn và uống thuốc trở lại nên khỏi bệnh. Cả nhà ú tim! À, có nhiều người bị trĩ, bị mụn nhọt, bị ung thư… cũng nhịn ăn vì tin rằng trĩ, mụn nhọt, ung thư không có “thức ăn” sẽ tiêu luôn. Nói chung bệnh gì cũng phải nhịn ăn để bệnh “hết đường sống”.
Phật tử: _ Bệnh “hết đường sống” hay người hết đường sống? Mình nhịn ăn, kháng thể trong người suy giảm, sức khỏe suy yếu, bệnh sẽ nặng thêm chứ làm sao khỏi được. Bệnh có hết chăng hoặc chỉ do tin đồn, hoặc “phước chủ lộc thầy” bệnh nhân hết nghiệp hết bệnh, thầy lang hưởng ké mà thôi.
Đệ tử Bụt: _ Có khi “cá ngáp phải ruồi” hoặc người mập nhịn ăn được ốm bớt khỏe ra. Thói thường có ít người ta sít ra nhiều.
Phật tử: _ Mấy ông thày lăng băm là chúa tung tin đồn thất thiệt để câu khách kiếm danh kiếm lợi.
Đệ tử Bụt: _ Có ông thầy miệng ăn uống đầy đủ, nhưng mồm luôn bảo rằng nhịn ăn để tẩy hết chất độc trong người, để thanh tịnh hóa thân thể. Có kẻ nghiện rượu bị xơ gan, kẻ khác hút thuốc bị lao phổi, cả hai nghe nói nhịn ăn giúp tẩy độc ra ngoài liền nhắm mắt thực hành theo.
Phật tử: _ Kết quả thế nào?
Đệ tử Bụt: _ Bệnh nặng thêm!
Phật tử: _ Chứ gì nữa! Cơ thể con người không lúc nào không tự tẩy chất độc thừa thãi ra ngoài như phân, nước tiểu, ghèn, mồ hôi… bằng hệ bài tiết dưới da và qua cửu khiếu.
Đệ tử Bụt: _ Trong đó gan và phổi là hai bộ phận cực kỳ quan trọng.
Phật tử: _ Cũng đúng luôn. Hai bộ phận này đã hư hại vì chất độc rượu, thuốc lá; bệnh phát sanh không lo uống thuốc và ăn uống thích đáng để chữa trị và phục hồi; trái lại nhịn ăn suy kiệt, làm sao không đi sớm.
Đệ tử Bụt: _ Đây là kiến thức y học phổ thông. Học sinh cũng hiểu.
Phật tử: _ Không sai. Nhưng nhiều trí thức khoa bảng lại không nhớ, đi nghe mấy ông thầy ‘nước lã’, bắt nhịn ăn thải độc.
Đệ tử Bụt: _ Mấy thầy lang băm nói nhịn ăn một thời gian cơ thể sẽ bốc mùi hôi, một thời gian nữa khạc đờm nhiều… đó là chất độc khử ra ngoài. Có người thấy đúng như vậy, tin ông thày như Thánh sống!
Phật tử: _ Trời đất. Cơ thể nào không hôi với 32 thể trược. Không tắm rửa một ngày cũng đủ bốc mùi. Nhịn ăn, cơ thể suy yếu, kháng thể suy giảm, các vết nội thương và vi trùng có cơ hội phát tác, cho nên sanh đờm nhiều, mủ nhọt nhiều chứ sao.
Đệ tử Bụt: _ À, còn có chuyện một ông Tăng bị bệnh, cũng nhịn ăn 49 ngày, xong ra thất còn chẻ củi tỉnh bơ khiến nhiều người thán phục.
Phật tử: _ Ổng có hết bệnh không?
Đệ tử Bụt: _ Không! Sau đó ổng còn bị phi nhân quấy rối khiến điên điên khùng khùng. Cuối cùng ổng bỏ đạo trở lui đời.
Phật tử: _ Tà tinh tấn tất nhiên phải như thế! Ông nên nhớ Đức Bồ-tát Gotama khổ hạnh bậc nhất, nhịn ăn đệ nhất; đến độ Ngài chỉ còn bộ xương khô chờ chết, nhưng vẫn không tìm ra Chân lý.
Đệ tử Bụt: _ Sau đó Ngài ăn uống trở lại và chứng đắc Đạo Giải Thoát Niết Bàn và tuyên bố con đường Trung Đạo - Tám Chánh Đạo, không sa vào hai cực đoan của vô minh là khổ hạnh ép xác và tham dục cõi đời.
Phật tử: _ Đúng vậy! Tham ăn bị béo phì cũng khổ. Nhưng nhịn ăn khổ hạnh bậc nhất, Đức Phật đã đi qua và dạy chúng ta không nên đi lại. Ấy thế mà nhiều người vẫn nhắm mắt lao đầu vào bụi gai.
Đệ tử Bụt: _ Nghe nói trong Kinh và Luật gốc, có rất nhiều lời dạy giúp tăng cường sức khỏe, phòng tránh và trị bệnh rất hay. 
Phật tử: _ Không những hay mà còn đúng với y lý, y học, khoa học, đạo đức học, xã hội học, giáo dục học… nữa. Đức Phật dạy từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, thở hít, ngủ nghỉ cho đến lợi ích của cây tăm, bát cháo v. v... rất tỉ mỉ và rất đầy đủ giúp người tu sĩ tu tập trọn vẹn về thân, về giới, về tâm, về tuệ. Trong tạng Luật có cả một chương nói về vị Thần Y Jivaka với những vị thuốc, phương thức trị bệnh độc đáo hiệu quả.
Đệ tử Bụt: _ Đáng tiếc người đời sau đã quay lưng quên lãng. Đời đã khổ vì sanh-già-bệnh-chết, giờ lại càng khổ thêm vì tà kiến, tà tín, tà hành.
Phật tử: _ Cái này gọi là “khổ - khổ”.
Đệ tử Bụt: _ Khổ thật! Khổ ơi là khổ! Tôi mới nghe nhịn ăn chữa bệnh thôi cũng muốn bệnh theo, khổ theo! Từ nay về sau tôi chỉ nghe lời Đức Phật Thích Ca mà thôi!
Phật tử: _ Coi chừng Bụt Thích Ca giả à nghe! Thầy lang có lang thật, lang giả. Thuốc có thuốc thật, thuốc giả. Phật cũng có Phật thật - “Phật” giả đó! Tóm lại học ăn cũng phải có trí tuệ, học Phật càng phải có trí tuệ nhiều hơn.
Đệ tử Bụt: _ Chí lý, chí lý thay lời bậc Hiền trí! Vô trí tuệ bất thành đệ tử Phật! Xin cảm ơn Phật tử!
Đạo Y
-------------------
PHÁP TRÍCH LỤC
Tăng Chi Bộ Kinh, Chương 5 Pháp, Phẩm Bệnh
] Bài kinh “Người Bệnh”, số 121
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Ðại Lâm, giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hành lang người bệnh. Thế Tôn thấy một Tỷ-kheo ốm yếu bệnh hoạn, thấy vậy Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
2. - Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú Vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát.
Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
* sống quán bất tịnh trên thân,
* với tưởng ghê gớm đối với các món ăn,
* với tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới,
* quán vô thường trong tất cả hành,
* và nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.
- Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú Vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát."

Câu hỏi:
1. Vì sao người bệnh lại phải quán tưởng ghê gớm đối với các món ăn?
2. Thế nào là nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết?
3. Vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát là gì? Tâm giải thoát khác Tuệ giải thoát như thế nào?
3. Vì sao năm pháp trên gắn bó với người bệnh lại có kết quả như vậy?


Thứ Năm, 3 tháng 12, 2015

“Tự chôn mình”?


- Thưa hiền huynh, có một vị Đạo sư lại dạy rằng: “Vội vàng đánh giá người khác là tự đào hố chôn mình”?
- Chứ còn gì nữa! Nếu cậu gặp được một bậc Chân Nhân, liễu Pháp, liễu Đạo nhưng sống ẩn mình, không thích khoa trương; cậu vội cho Ngài là hạng phàm nhân, không biết gì rồi tỏ ra khinh thường, bất kính thì cậu làm sao có duyên may nghe được Chánh Pháp để từ đó được giải thoát! Như vậy là tự chôn mình rồi còn gì!
- Ngược lại, mọi người cứ nhắm mắt tin theo lời đồn, hoặc gặp thứ lừa bịp nhưng khéo khoe khoang, cứ thế tin theo những kẻ lừa đảo, thực hành theo những kẻ phi nhân giả nghĩa thì hậu quả phải lao xuống vực thẳm, đúng không?
- Đúng vậy. Cho nên trong chánh kinh, Đức Phật đã dạy thế này
“Hãy học các dòng nước
Từ khe núi vực sâu
Nước khe núi chảy ồn
Biển lớn động im lặng
Cái gì trống kêu to
Cái gì đầy yên lặng
Ngu như ghè vơi nước
Bậc trí như ao đầy.”
(Kinh Nalaka, kệ 720-721, Sn131)


Chánh Tri Tâm
-------------------
PHÁP TRÍCH LỤC
Đức Phật dạy vua Pasenadi cách biết rõ người khác:
“6) -- Thưa Ðại Vương, khi Ðại Vương còn là cư sĩ, trong khi còn sống thọ hưởng các dục, bị con cái trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và bạc, thời Ðại Vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả.
7) Thưa Ðại Vương, chính phải CỘNG TRÚ mới biết được GIỚI ĐỨC của một người, và phải trong một THỜI GIAN DÀI không thể khác được; phải có TÁC Ý, không phải không có tác ý; phải có TRÍ TUỆ, không phải với ác tuệ.
8) Thưa Ðại Vương, chính phải cùng CHUNG MỘT NGHỀ mới biết được sự THANH TỊNH của một người; phải trong một THỜI GIAN DÀI không thể khác được; phải có TÁC Ý, không phải không tác ý; phải có TRÍ TUỆ, không phải với ác tuệ.
9) Thưa Ðại Vương, chính trong THỜI GIAN BẤT HẠNH mới biết được sự TRUNG KIÊN của một người; phải trong một THỜI GIAN DÀI không thể khác được; phải có TÁC Ý, không phải không tác ý; phải có TRÍ TUỆ, không phải với ác tuệ.
10) Thưa Ðại Vương, chính phải ĐÀM ĐẠO mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một THỜI GIAN DÀI không thể khác được; phải có TÁC Ý, không phải không tác ý; phải có TRÍ TUỆ, không phải với ác tuệ.”
Trích bài kinh “BỆN TÓC”, số 77, Tương Ưng tập 1

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015

Ăn chay cũng sát sanh!


Nếu gõ trên Google cụm từ tiếng Anh ‘products made from animals’ (các sản phẩm được làm từ động vật), ngay tức khắc có liền 385.000.000 kết quả. Con số này không dừng lại ở đây mà càng lúc càng nhiều hơn theo thời gian.
Với hàng trăm triệu tài liệu như vậy, thật khó có thể liệt kê hết tất cả các sản phẩm được làm từ động vật mà con người đang sử dụng. Ở đây, chỉ giới thiệu sơ một bài viết trong vô vàn tài liệu ấy để thấy sự đa đạng của các sản phẩm có từ động vật.
Theo tài liệu ‘Sản phẩm từ động vật’, loài heo đã góp phần tạo nên một loạt các vật phẩm thiết yếu khác nhau, từ các loại van phẫu thuật tim cho người, da làm thành giày dép và quần áo, cho đến chất gelatin cần trong thực phẩm và không phải thực phẩm. Ngoài ra các chất liệu từ heo cũng góp phần tạo ra máy lọc nước, chất cách điện, cao su, chất chống đông, chất dẻo, sáp lau sàn, bút sáp chì màu, phấn, chất kết dính và phân bón (USDA, 2012). Mỡ heo cũng góp phần trong các loại kem cạo râu, xà-bông, đồ trang điểm v.v…
Bên cạnh heo, gia súc cũng góp phần tạo ra nhiều sản phẩm khác nữa. Mỡ gia súc đã góp phần mình làm ra giấy sáp, bút chì màu, bơ thực vật, sơn, cao su, chất bôi trơn, nến, xà-bông, son môi, kem cạo râu và các mỹ phẩm khác. Chất gelatin từ gia súc được sử dụng trong dầu gội đầu, mặt nạ và mỹ phẩm khác, bánh tráng miệng, bánh kẹo và kẹo dẻo. Da từ gia súc tạo ra ví, túi xách, đồ nội thất, giầy dép và nệm bọc trong xe v.v.. (Nguồn: http://animalsmart.org/feeding-the-world/products-from-animals)
Ngoài ra còn muôn vàn các sản phẩm khác cũng có phần từ động vật như ván ép, pháo bông, sơn móng tay, kem đánh răng, nước hoa, gối, nệm, keo dán gỗ, phim nhựa, chất khử mùi, thiết bị máy tínhv.v… và v.v…
Chỉ liệt kê sơ chừng đó thôi cũng đủ thấy có biết bao thực phẩm, vật dụng tưởng chừng như ‘chay thuần chủng’, thế nhưng hóa ra cũng được làm từ sinh mạng của các động vật mà thôi. Không ăn thịt nhưng lại sử dụng hàng trăm, hàng ngàn vật dụng có được từ động vật cũng có nghĩa là đang sử dụng từ sinh mạng của chúng, như vậy là trực tiếp hoặc gián tiếp sát sanh, chứ hoàn toàn không sát sanh ở chỗ nào. Cho nên mới nói “ăn chay cũng sát sanh” là vì vậy!
Cần nói ngay, việc nêu ra dẫn chứng trên tuyệt đối không có nghĩa ủng hộ sát sanh, khuyến khích sát sanh, mà chỉ để thấy rằng không chỉ có ăn thịt mà việc sử dụng biết bao các sản phẩm từ động vật cũng góp phần trực tiếp hay gián tiếp sát sanh mà thôi. Do vậy, việc phỉ báng những người ăn thịt sát sanh hại mạng là kiểu nói thô thiển, một chiều, và độc đoán.
Sự phỉ báng này càng trở nên ấu trĩ và ác tâm hơn khi cho rằng những ai cúng dường và thọ dụng thịt “tam tịnh” (không thấy, không nghe, không nghi ngờ vì mình mà giết) là những kẻ sát sanh hại mạng, là kẻ thèm khát thịt phá giới. Lối vu khống tàn nhẫn này chỉ là hệ quả của vô minh, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp mà ra.
Sự vô minh, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp này truyền thừa từ các tổ sư gốc ngoại học xâm nhập vào Đạo Phật. Thật vậy, thực tế truyền thống ăn chay vốn xuất phát từ đạo Bà La Môn, chứ không phải của Đạo Phật. Ngay từ nhiều kiếp về trước các Bà-la-môn đã dựa vào truyền thống ăn chay của mình để đả kích Đạo Phật ‘tam tịnh nhục’. Điển hình là bài kinh “Hôi Thối - Amagandha” (Sn 42, Tiểu Bộ tập 1, Kinh Tập, Chương 2 – Tiểu Phẩm) đã chứng minh điều này.
Trong bài kinh này các Bà-la-môn từ xa xưa cũng đã dựa vào chay cỏ để xỏ xiên Đạo Phật, thế nhưng Đức Phật Kassapa thời quá khứ đã rống tiếng sư tử và dạy cho các Bà-la-môn hiểu rõ thế nào mới là ‘ăn đồ hôi thối, ăn thịt không phải thối’. Những ai muốn biết rõ tại sao ‘ăn thịt không phải thối’ và ăn như thế nào mới là ‘đồ hôi thối’, hãy đọc kỹ bài kinh này, để không theo chân các Bà-la-môn ngoại học phỉ báng Chánh Tam Bảo.
Còn trong kiếp hiện tại, như trong Kinh và Luật Pali Nguyên thuỷ còn ghi lại, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni cũng đã phải rất nhiều lần phản bác sự chống phá của các Bà-la-môn chay. Ngài cũng đã phải nhiều lần rống tiếng sư tử để minh định rõ cách ăn ‘tam tịnh’ của Đạo Phật và đồng thời vạch trần lối ăn chay đạo đức giả của các Bà-la-môn.
Một trong số đó là Đại Kinh Sư Tử Hống (số 12, Trung Bộ 1). Trong bài kinh này Đức Phật đã dạy cho ngài Xá-lợi-phất về lòng từ tâm vô lượng đối với tất cả các chúng sanh li ti ‘không thấy, không nghe, không nghi’ trong từng giọt nước. Đây cũng là cách gián tiếp Đức Phật phê phán lối ăn chay đạo đức giả của các Bà-la-môn.
Vì sao như vậy? Vì trong từng giọt nước đã có vô số vô lượng các chúng sanh, vậy thì trong từng ly nước các Bà-la-môn uống, trong từng cọng rau các Bà-la-môn nhai đã có vô số vô lượng chúng sanh ‘không thấy, không nghe, không nghi’ đã phải chết trong lỗ miệng phàm phu và dưới cặp mắt phàm tục của họ, chứ đâu phải chỉ có ăn thịt mới là sát sanh, và lối ăn ‘tam tịnh nhục’ lại càng không phải như thế. Rõ ràng chỉ có Bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác mới thấu suốt được điều này từ khi con người chưa có kính hiển vi.
Kế thừa Tuệ Nhãn này, những Phật tử Nguyên thủy chân chánh trước sau như một đều cố gắng từ bỏ  sát sanh, không khuyến khích sát sanh, không ủng hộ sát sanh, vì tất cả đều phải xem giới cấm sát sanh là trọng giới đầu tiên phải gìn giữ. Do vậy việc một chiều gán ghép những người cúng dường và thọ dụng thịt-tam-tịnh là sát sanh hại mạng, nếu không phải là kiểu vu khống tàn nhẫn thì còn là gì nữa?
Lại nữa, mình tuy ăn chay nhưng có chắc gia đình mình, cha mẹ mình, ông bà tổ tiên mình, họ hàng người thân của mình tất cả đều ăn chay hết thảy, tất cả đều không sử dụng các ‘sản phẩm mặn’ từ động vật? Chắc chắn là không, nếu vậy, mình phỉ báng khinh chê những người ăn mặn thì mình đang phỉ báng khinh thường ai đây?
Những ai cho rằng ăn chay mới không sát sanh hãy nhìn lại trên người mình, trong phòng mình, trong nhà mình, trong chùa mình thử xem mình có hoàn toàn sử dụng các vật dụng không được làm từ sinh mạng của các động vật không! Miệng tuy ăn chay nhưng sử dụng biết bao các sản phẩm từ sinh mạng động vật, liệu các vị lấy tư cách gì để lên án, coi khinh những người ăn thịt là sát sanh, nhất là những người thọ dụng “tam tịnh nhục”.
Tóm lại, mong rằng từ nay những vu khống, xuyên tạc nhẫn tâm đối với các đệ tử nguyên thủy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dẫn đến việc chia rẽ Đạo Phật thành Phật giáo chay – Phật giáo mặn, tạo thành tội phá hòa hợp Tăng phải đoạ vào địa ngục vô gián sẽ vĩnh viễn không nữa!
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Cư Sĩ Nam Truyền

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

Bợp tai công án!


Đà Đầu đại sư là một tu sĩ ẩn lâm theo hạnh khất thực và sống độc trú biệt cư trong rừng. Một hôm, vị khất sĩ ung dung ôm bình bát rảo bước đến trước thiền môn xin ăn.
Thiền sư Inhuka, trụ trì thiền tự, vốn nổi tiếng là một người cao mạn. Dưới mắt ngài, tất cả bọn“Tiểu thừa” “đi xe con mu rùa” chỉ là thứ “chồi khô mộng lép”, “trầm không trệ tịch, tiêu nha bại chủng”.
Cho nên gặp được dịp này, Thiền sư đã không thèm lấy lễ chủ khách tiếp đón Đại sư thì chớ, trái lại ngài còn đặt điều kiện buộc đạo sư Đầu Đà phải giải đáp được một công án thiền của ngài rồi mới bố thí cho ăn, bằng không cứ quá bộ đến xin nơi khác. Trời đã quá trưa, Đại sư Đầu Đà không còn cách nào khác đành phải gật đầu chấp nhận.
Thiền sư Inhuka liếc nhìn kẻ tiểu nhân đang đứng lặng im ôm bình bát chẳng khác nào một tên ăn mày, ngài liền nhếch mép cười gằn, rồi lách mình bước lên bậc thềm cao.
Vị thiền chủ đảo mắt qua khắp chúng đệ tử một lượt như ngầm bảo mọi người hãy chứng kiến ngài ra tay dạy pháp cao siêu cho những kẻ ngoại đạo tiểu tâm, tiểu trí.
Thấy mọi người đều chăm chú nhìn mình, thầy trụ trì lại càng ra vẻ tự mãn. Ngài xoay người vung tay oai vệ bước lên bảo tọa, khoanh chân ngồi chễm chệ trên bồ đoàn gấm thêu.
Vừa mới an toạ, Thiền sư đã trầm tư lim dim đôi mắt, thân mình ngài lắc lư như một kẻ ngồi đồng đang phải tập trung tất cả tâm tưởng vào khoảng không bao la vi diệu. Mọi người còn đang hồi hộp, bất thình lình Thiền sư xuất chiêu tung công án:  
_ Khi vỗ hai tay vào nhau phát ra tiếng kêu. Thế nào là “LẮNG NGHE TIẾNG VỖ CỦA MỘT BÀN TAY”? (1)
Ngay tức khắc đại sư Đầu Đà bước tới, xòe một bàn tay trước mặt vị Thiền sư: “bốp... bốp... bốp...”. Thiền sư Inhuka tối tăm mặt mũi, miệng la bai bải:
_ Ối giời ơi, sao ngươi lại tát ta?
_ Thưa, đó là tiếng vỗ của một bàn tay. Còn một tay nữa, ngài muốn nghe tiếp không?
_ Thôi, thôi, thôi ta đã “đại ngộ” rồi!
Tương truyền, kể từ dạo ấy, Thiền sư Inhuka không còn dám vỗ ngực xưng tên tông môn mình là “Tối thượng thừa thiền” nữa, và chi phái thiền công án của ngài cũng biệt tích trên chốn giang hồ từ đó. Chỉ tiếc rằng nhiều người đời sau không biết đến câu chuyện này, nên vẫn còn bị các đạo sĩ rởm bày trò bịp bợm (2)

Trở Về Chánh Đạo
________________
(1) Công án thiền học “nổi tiếng” của tổ sư Hakuin.
(2) Theo chi phái thiền này, mỗi thiền sinh được giao cho một công án - thường là một câu hỏi hoặc một sự kiện nghịch lý - để giải nghi. Thiền sinh cứ tập trung tâm trên khối “nghi tình” này sẽ đến lúc được “hoát nhiên đại ngộ”.
Thực chất của tiến trình này chỉ là một lối thực hành theo tà pháp.  Bởi lẽ, sự kiện càng nghịch lý, càng vô lý bao nhiêu càng khiến hành giả phải chú tâm trên nghi vấn bấy nhiêu, và khi hành giả gom tâm đơn thuần trên một đối tượng như vậy, sẽ đến lúc ‘cái biết’ tức ý thức tách rời khỏi sự nhận thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.
Theo Đại Kinh Phương Quảng nguyên thuỷ, đây là lúc ý thức tách rời năm căn, và vì vậy hành giả sẽ rơi vào trạng thái mà Đức Phật gọi là 'Hư Không Vô Biên Xứ Định Tưởng' - tức tầng thiền đầu tiên của tà định bốn thiền vô sắc.
Chỉ cần đạt được định “Hư Không Vô Biên Xứ” này, hành giả cũng có thể giải đáp được tất cả các công án thiền còn lại; và vì vậy nghĩ rằng mình đã “giác ngộ” (!) Điều này giống như một người nhờ một con đường leo lên đỉnh đồi, khi người ấy đã ở trên đỉnh sẽ thấy được tất cả các con đường khác.
Thế nhưng, điều này không có nghĩa người ấy đã thấy được các đỉnh núi cao nơi khác, càng không có nghĩa thấu suốt được cả trái đất, càng không có nghĩa thấu suốt được cả vũ trụ. Nói theo Kinh Pháp Môn Căn Bản của Đạo Phật Nguyên thuỷ, người này mới chỉ “tưởng tri giác ngộ là giác ngộ”, “tưởng tri Niết Bàn là Niết Bàn”.
Tưởng tri này do đâu mà có? Cũng do định tưởng Hư Không Vô Biên Xứ mà ra. Với tưởng tri của trạng thái “Không” này, hành giả cũng sẽ “ngộ” ra và dễ dàng chấp nhận sự phủ định sạch trơn của Bát Nhã Tâm Kinh do các tổ sư gốc Bà-la-môn xiển dương với “sắc tức thị không, không tức thị sắc... vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo”.
Và đương nhiên, vì là tà thiền tà định, không nhắm đến diệt dục ái ngay từ đầu, nên dù nhập được các tầng định này, vị tu sĩ vẫn còn ôm giữ cả một khối tham-sân-si, năm triền cái, các kiết sử, phiền não lậu hoặc đầy đủ.
Chính vì thế mới có chuyện “vô trí diệc vô đắc”, hoặc “độ bao nhiêu (niệm) chúng sanh nhưng vẫn không thấy chúng sanh nào được độ”, hoặc “người tu chứng nhưng không thấy mình tu chứng” (!!!)
Chỉ với thứ tà tuệ, tà giải thoát có được từ tà định như vậy, thế nhưng các Thiền sư, theo chân các tổ sư Bà-la-môn gián điệp, đã dám quay lại khinh thường phỉ báng Chánh Định - Bốn Thiền, Bốn Thánh Định của Đức Phật là “phàm phu thiền”, “tiểu thừa thiền”, “ngoại đạo thiền” (sic). Thử hỏi, có gì là quá đáng khi phải gọi đích danh họ là những “đạo sĩ rởm bày trò bịp bợm”?


Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

Đế Tăng Điên đệ tử Tế Điên Tăng

Ảnh Internet
Vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20, một tờ tuần báo Phật giáo tại một thành phố lớn của miền Nam đã cho đăng nhiều kỳ truyện tranh về Tế Điên Hòa Thượng ăn thịt chó, uống rượu như… thánh.
Chẳng bao lâu sau, chuyện có thực 100% đã xảy ra tại một trường Cơ Bản Phật Học của một tỉnh lân cận. Toàn bộ Ban giám hiệu và Ban giảng huấn của trường, từ vị hòa thượng hiệu trưởng đến các thượng tọa, đại đức giảng viên, hết thảy mọi người cùng nhất tâm đua nhau tu tập theo gương thánh tăng Tế Điên sư phụ. Tất cả các ngài đều sáu thời nỗ lực công phu tu… rượu. Lên lớp: nhậu. Tan lớp: nhậu. Họp giao ban: nhậu. Nói chung nhậu mọi lúc mọi nơi cho đúng với tinh thần phá chấp của vị tiền bối con nuôi Ngọc Hoàng.
Cuối cùng vô thường rồi cũng đến, cho nên ngôi trường Phật học ấy đã bị đóng cửa, đồng thời tờ tuần báo Phật giáo cũng ngưng không dám đăng tiếp truyện về vị thánh-tăng-nhậu-nhẹt.
Thế mới biết tấm gương công hạnh của “ngài” Tế Điên Tăng đến hàng trăm năm sau vẫn còn có kẻ noi theo. Không biết trí tuệ giác ngộ của “Thánh Tăng Tế Công” đã cứu độ được cho ai, chứ chắc chắn hành vi của “ngài” đã độ cho biết bao các đệ tử lưu linh được tha hồ nhập lưu và đắm mình vào dòng men tửu. Còn các Đế Tăng Điên thời đại, quả cũng không làm hổ danh sư phụ Tế Điên Tăng.
Long Vương Giáo Chủ Thuỷ Tề tôi đây tâm phục khẩu phục, xin gieo năm vóc đảnh lễ các ngài.
Long Vương Giáo Chủ Thuỷ Tề
Trị đạo sĩ thúi, tứ bề an vui
___________________________ 
PHÁP TRÍCH LỤC
-- Trích Kinh Tập, Tiểu Bộ 1, bài kinh “Kẻ Bần Tiện” (Vasalasuttam) (Sn 21) [tr. 505]
137. Do đây, nên hiểu biết,
Như Ta trình bày rõ,
Màtanga được danh,
Bần tiện, ăn thịt chó.

-- Trích Kinh Tăng Chi tập 1, Chương 4, V. Phẩm Rohitassa, (X) (50) Các Uế Nhiễm
“...2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn uống rượu men, uống rượu nấu, không có từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ nhất của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn, không có cháy sáng... không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn, hưởng thọ dâm dục, không từ bỏ dâm dục. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ hai... không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn chấp nhận vàng và bạc, không từ bỏ nhận lấy vàng và bạc. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ ba... không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn sinh sống với tà mạng, không từ bỏ tà mạng. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ tư của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do những uế nhiễm này làm ô nhiễm, nên các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.”
Thừa tự Pháp trích lục
Có nhiều người tự hỏi vì sao nhiều người lại tôn vinh một Tế Điên Công uống rượu, ăn thịt chó là ‘Thánh Tăng’; trong khi chính họ lại mạt sát thậm tệ những người ăn và cúng dường ‘Tam tịnh nhục’? Nhất là khi những người này chỉ tuân theo đúng với sự cho phép của Đức Thế Tôn trong kinh điển Nikaya và luật tạng Patimokkha. Trước sau họ đều ý thức giữ gìn năm giới, trong đó có giới không sát sanh, không uống rượu. Tất cả không tán thán sát sanh nhậu nhẹt, không khuyến khích sát sanh nhậu nhẹt.
Người ta phải ca ngợi Tế Điên Tăng vì tinh thần phá chấp của ngài ư? Xin lỗi, phá chấp kiểu này cần gì phải ‘Thánh Tăng’ mới làm được. Một kẻ phàm phu tục tử cũng thừa sức và thừa lý lẽ để phá chấp như Tế Điên Công. Ai không tin cứ đến các hội chúng say sưa nhậu nhẹt mà nghe các con nuôi Ngọc Hoàng vừa phá chấp vừa thuyết lý.
Người ta phải ca ngợi Tế Điên vì ngài có thần lực uống rượu nhưng không say ư? Có kẻ say nào thừa nhận mình say? Có hội chúng ưa say xỉn nào lại không tán thán những ông ‘chủ xị’ đầu têu cho cuộc nhậu? Có bợm nhậu nào lại không khen ngợi nhau uống rượu nhưng không say để tiếp tục... say xỉn với nhau? Vả lại công phu uống rượu không say để làm gì? Để khuyến khích những kẻ thích say xỉn hãy cố gắng tu rượu thêm nữa cho ‘tăng đô’ ư?
Rõ ràng với những người trí, sự mâu thuẫn đầy uế nhiễm trên đã đạt tới mức phi lý, phi pháp đến tận cùng.
Còn chuyện uế nhiễm do hưởng thọ dâm dục thì sao? Các học giả Đại Thừa nào không biết đến Cưu Ma La Thập, một dịch giả khét tiếng đã giới thiệu rất nhiều kinh luận mới cho Phật giáo cải biến. Thế nhưng theo cuốn “Tranh Biện” của Xích Liên xuất bản 1929 – 1932, quyển Thượng, trang 151 – 169, có nêu rõ Cưu Ma La Thập đã ngang nhiên nhận cả mười cung nữ từ vua Diêu Tần ban cho để hầu hạ riêng cho ‘ngài’.
Dù Cưu Ma La Thập có là một cư sĩ chân chính của Phật giáo chăng nữa, ông ta cũng không nên làm như vậy, huống hồ là nhà sư, là luận sư ‘đáng kính’ của nhiều người. Những ai vinh danh một dịch giả như vậy, hẳn họ cũng sẽ thoải mái chấp nhận các thị nữ ‘hầu hạ’ riêng cho mình. Thử hỏi các ‘Thánh kinh’ từ các dịch giả một tay ôm bút, một tay ôm thị nữ có còn thanh tịnh hay bị uế nhiễm đến tận cùng?
Nếu ai đó hoài nghi thông tin trong ‘Tranh Biện’ là không đáng tin cậy? Vậy tại sao mọi người lại tin ngay tất cả các kinh luận từ một dịch giả sống sau Phật hàng trăm năm như Cưu Ma La Thập? Sự cả tin này có phải là sự uế nhiễm đáng chê trách không?
Còn uế nhiễm thứ ba do chấp nhận vàng bạc thì khỏi nói. Ngay sau khi Đức Thế Tôn vừa mới nhập diệt một trăm năm thì các Tỳ-khưu xứ Vajji đã ngang nhiên chế ra mười điều luật mới. Trong đó đã có chuyện xé rào cho phép Tỳ-khưu nhận tiền. Việc phá luật này đã bị các trưởng lão giới hạnh tinh nghiêm chặn đứng, thế nhưng sau đó sự uế nhiễm này vẫn tiếp diễn như thế nào, mọi người đều thấy rõ.
Chỉ có điều ngày nay nhiều người đã xem việc tu sĩ nhận tiền là đương nhiên, việc tu sĩ có nhiều tiền không phải là uế nhiễm mà là ‘phước báu’. Đây mới là sự uế nhiễm tận cùng.
Còn uế nhiễm do tà mạng như xin xăm, xem bói, coi ngày, coi giờ, cầu đảo, bùa chú, lên đồng, gọi hồn... thì sao? Trong thực tế các uế nhiễm kiểu này cũng lắm đường nhiều cách. Mọi người chỉ cần duyệt qua các tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đủ thấy rõ. Thế nhưng cũng giống như việc nhận tiền, nhiều nơi xem việc sinh sống bằng tà mạng không phải là uế nhiễm, trái lại là những hoạt động bình thường trong chùa chiền. Đây mới chính là sự uế nhiễm tận cùng.
Tất cả các uế nhiễm trên đã khiến cho những ai tin theo ‘không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng, trái lại bị lu mờ, tối tăm, mê muội. Chính vì bị lu mờ, tối tăm, mê muội cho nên mới không thấy rõ những tà hạnh của các tà nhân, mới không thấy rõ các tà thuyết lươn lẹo ngụy biện trong các tà kinh, để rồi nhắm mắt đưa chân vào cõi dữ, đoạ xứ, địa ngục.
Đây mới là khốn khổ đến tận cùng! Chính vì thế mong mọi người hãy tỉnh mau kẻo trễ!