Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2016

Cúng dường Bụt... Bà La Môn



Các vị Thần Tiên đang ngồi đàm đạo với nhau trên Cung Trời Đao LợiTiên Trắng đặt vấn đề:
Này các bạn, mình thấy có nhiều nơi người ta xúi dại nhau đốt đầu, chặt ngón tay và họ cho như thế là cúng dường Phật.
Cả đám liền nhao nhao phản đối. Tiên Hồng thở phì giọng mũi:
_ Họ cúng dường Phật... Bà-la-môn thì có, chứ Phật Thích Ca đâu có xúi dại như vậy.
Tiên Vàng phụ họa:
_ Đúng vậy. Chính Đức Phật Thích Ca đã dạy trong kinh Tăng Chi Nguyên thuỷ: Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ”. Một Đức Thế Tôn đã dạy như thế làm gì chấp nhận sự cúng dường hại mình hại người kiểu đốt đầu, chặt tay như vậy.
Tiên Đỏ có vẻ am hiểu:
_ Những tập tục đốt liều, hành xác này vốn xuất phát từ các tổ sư Trung Hoa, chứ trong Đạo Phật chính thống không có.
Tiên Xanh tiếp lời:
_ Tiên Đỏ nói đúng. Các tổ sư gốc Bà-la-môn này đã kế thừa truyền thống hại mình, hại người của các ông Bà-la-môn thời Phật chứ đâu. Trong kinh Devadaha, số 101, Trung Bộ 3, Đức Phật đã dạy cho các ông khổ hạnh Ni-kiền-tử thế này "Chư Hiền Nigantha, các Ông nghĩ thế nào? Khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, trong khi ấy có phải các Ông thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ? Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, trong khi ấy có phải các Ông không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ”  
Tiên Lam mạnh giọng:
_ Rõ ràng các kiểu hành xác đốt liều, chặt tay là cúng dường cho mấy ông Ni-kiền-tử Bà-la-môn khổ hạnh, chứ không phải cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Người ta càng tinh tấn đốt đầu, chặt tay; càng thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ chứ giải thoát cái nỗi gì. Đây là lối tà tinh tấn, là ác trí, dại tuệ.
Tiên Vàng đồng ý với bạn:
_ Đúng vậy, càng tà tinh tấn càng làm khổ mình khổ người, vì đã suy tư hành động như người bất chánh. Trong Trung Bộ 3 có bài Tiểu Kinh Mãn Nguyệt, Đức Phật dạy thế này: “Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh.  Kiểu đốt đầu mình, đốt đầu người, chặt tay mình, chặt tay người là kiểu suy tư hành động của những người bất chánh.
Tiên Tím nãy giờ im lặng, giờ mới lên tiếng:
_ Kiểu bất chánh hại mình, hại người ấy cũng bắt nguồn từ các kinh văn ngụy tạo vụng thuyết của các tổ sư gốc Bà-la-môn gián điệp. Trong chánh kinh Tăng Chi, Đức Phật đã chỉ rõ: “Trong một pháp luật được vụng thuyết, này các Tỷ-kheo, người tinh cần tinh tấn sống đau khổ. Vì cớ sao? Vì pháp được vụng thuyết... Trong một pháp luật được khéo thuyết, này các Tỷ-kheo, ai sống tinh cần tinh tấn, người ấy sống an lạc. Vì cớ sao? Vì pháp được khéo thuyết”?

Tiên Nâu hào hứng tham gia:

_ Mình xin dẫn chứng một trường hợp vụng thuyết. Trong kinh Hoa Nghiêm Đại Thừa, phẩm Hạnh Nguyện Phổ Hiền Bồ-tát có nguyện thứ tám của Phổ Hiền như sau: thường học theo Phật là như đức Tỳ-lô-giá-na như lai của thế giới Sa bà này… lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, chích huyết làm mực, sao chép kinh điển chất bằng núi Tu di, vì tôn trọng chánh pháp mà thân mạng còn không tiếc…” (1)Hừ, hy sinh kiểu này có hơn gì mấy con thiêu thân. Còn mấy kẻ khủng bố liều mình vì đạo cũng làm được.

Tiên Hoàng lắc đầu quầy quậy rồi mở laptop đọc to:

Còn nhiều nữa đây này, Bồ-tát giới của Đại Thừa còn ghi rõ rành rành thế này: “Giới khinh thứ 16: GIỚI VÌ LỢI MÀ GIẢNG PHÁP LỘN LẠO: Nếu Phật tử, phải tận tâm học kinh luật oai nghi Đại thừa, thông hiểu nghĩa lý, khi thấy có hàng tân học Bồ Tát từ xa trăm dặm nghìn dặm đến cầu học kinh luật Đại thừa, nên đúng như pháp giảng giải tất cả khổ hạnh, hoặc đốt thân, hoặc đốt cánh tay, đốt ngón tay. Nếu không đốt thân hay cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật thời không phải là hàng Bồ Tát xuất gia. Nhẫn đến xả thịt nơi thân cùng tay chân mà bố thí cho tất cả những cọp, sói, sư tử đói, cùng tất cả loài quỷ đói. Rồi sau mới tuần tự theo căn cơ của mỗi người giảng chánh pháp cho hàng tân học ấy được mở thông tâm ý. Nếu Phật tử vì quyền lợi, đáng dạy mà không dạy, lại giảng kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn xộn không có thứ lớp trước sau, thuyết pháp có tính cách hủy báng Tam Bảo. Phật tử nầy phạm «khinh cấu tội». (2) Đấy, kinh luật nào vụng thuyết hay khéo thuyết, Hiền trí hay ác trí, Đại tuệ hay tà tuệ, chân chánh hay không chân chánh, chánh tinh tấn hay tà tinh tấn, các bạn biết rõ cả rồi.

Tiên Hoàng vừa đọc xong, Tiên Ngọc liền lên tiếng:

_ Trời đất ơi! Kinh luật kiểu gì lại vụng thuyết, bất chánh và ác trí dại tuệ như thế chứ. Chỉ cần so sánh sơ sơ giữa hai loại kinh luật thôi cũng đủ thấy rõ đâu chánh đâu tà, đâu thắng đâu liệt. Ấy thế mà hàng ngàn năm qua dưới cõi Ta Bà người ta vẫn không hay biết gì cả. Nguy thật!

Tiên Ngà tâm đắc với bạn hiền:

_ Người ta không biết vì cả tin ngây thơ vào các tổ sư gián điệpMình xin góp ý thêm, để dứt khoát với tà kinh nguỵ luật, trong Pháp Luật chính thống được khéo thuyết, Đức Thế Tôn đã dạy rõ thế này: “Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ KHỔ VÀ ƯU mà Bốn Thánh Đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ LẠC VÀ HỶ mà Bốn Thánh Đế được chứng ngộ. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt (S.v,440).

Tiên Trắng ra vẻ ‘giác ngộ’ ý Tiên Ngà, liền gật gù:
_ Mình hiểu rồi. Đời đã quá khổ vì sanh-già-bệnh-chết giờ lại càng khổ thêm vì lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, chích huyết làm mựcđốt thân, hoặc đốt cánh tay, đốt ngón tay.  Nhẫn đến xả thịt nơi thân cùng tay chân mà bố thí cho tất cả những cọp, sói, sư tử đói, cùng tất cả loài quỷ đói, thì giáo lý ấy cao siêu chỗ nào, diệt khổ cái nỗi gì. Chúng cứu khổ hay thêm khổ, từ bi hay xúi dại, tất cả đã rõ quá rồi. Chúng ta phải tránh xa thôi.
Tiên Tím chắp hai tay trước ngực, tiếp lời:
_ Tiên Trắng nói rất đúng. Theo lời Phật, chúng ta từ vô thỉ vô chung bị đau khổ, giờ gặp đúng giáo Pháp của Ngài, nhờ lạc và hỷ để giải thoát hoàn toàn, không hại mình, không hại người, lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới như vậy mới thực sự là Diệu Pháp, là Thánh Pháp, là Siêu Pháp của bậc Hiền trí, Đại tuệ; phải không các bạn?
Cả nhóm cùng hoan hỷ nhất trí với Tiên Tím và cùng chắp tay niệm lớn “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Tất cả cùng nhắc nhau phải cố gắng theo đúng lời Phật, tránh xa lời Ma, để thoát khổ ngay trong đời này, thoát khổ trong đời sau. 
Buổi thảo luận kết thúc trong sự hân hoan lợi ích.
Tiên Tri Đạo Sư
_____________
Ghi chú
(1) Bản dịch của HT Thích Trí Quang
(2) Bản dịch của HT Thích Trí Tịnh


Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Lắm Bụt nhiều ma


Trong buổi công phu sớm, sadi Thích Tâm Định dù đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không thể định tâm. Trong đầu chú cứ lăng xăng một thắc mắc không có câu trả lời. 
Đang khi bối rối, chợt sadi Tâm Định thấy một luồng hào quang rực rỡ chiếu sáng khắp vùng đồi núi. Chưa kịp định thần, Tâm Định đã thấy một vị Thiên Nhân hiện ra giữa ánh sáng báu. Chú Sadi ngạc nhiên, cầm lòng không đặng liền lên tiếng:
_ Thưa, ngài là ai?
_ Dotricai, một chư Thiên thuộc cõi trời Ba Mươi Ba. Ta biết chú đang phân vân về một vấn đề quan trọng nên muốn giúp đỡ.
Sadi Tâm Định mừng rỡ, quên cả rụt rè sợ hãi:
_ Ồ, thế ra ngài cũng có tha tâm thông. Quả thật, tôi đang rất băn khoăn một chuyện.
_ Hãy nêu lên, tôi sẽ giải đáp cho.
_ Vâng, thưa ngài. Theo tôi được biết, trong kinh Nguyên thủy Nikaya chỉ có sáu Đức Phật thời quá khứ lâu xa và một Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong kiếp trái đất hiện tại. Thậm chí bốn câu cuối cùng trong kinh Đại Bát Niết Bàn Pali còn ghi: “Khó thay sự chiêm ngưỡng. Tôn nhan bậc Như Lai. Trải nhiều nhiều trăm kiếp, May lắm được một lần”.
_ Pháp nhĩ như thị. Chánh pháp là như thế! Chư thiên Dotricai xác nhận.
_ Thế nhưng tại sao chỉ mới có vài trăm năm sau, bên Đại Thừa cải biến lại có rất nhiều Phật? Trong kinh Vạn Phật có cả chục ngàn vị Phật? Chưa đủ, đoạn 28 của kinh Kim Cang còn có tới “tám trăm bốn ngàn vạn ức trăm triệu chư Phật như lai”? Quái dị nhất là Chương 11, kinh 42 Chương còn ghi rõ “Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn”? Thế nghĩa là sao? Nhiều như kiến còn quý giá gì nữa? Một “vị” trâu điên ngoài đồng có niệm, có trụ, có tu, có chứng không? Phải chăng chính vì vậy mà Phật giáo không thiếu những kẻ ma giáo dám mạo xưng làm Phật? 
Vị chư Thiên cõi trời Ba Mươi Ba gục gặc đầu, thở phì giọng mũi:
_ Hừ, phi pháp nhĩ như thị. Tà pháp mới như vậy!
Nói xong, vị Thiên Thần thổi phù một hơi, ngay tức khắc chiếc laptop xuất hiện trong tay ngài. Gõ vài nhịp trên bàn phím xong, Thiên Nhân Dotricai vừa nhìn vào màn hình vừa cất giọng trịnh trọng:
_ Nghe đây, đó là vì trong bài kinh “Sự Xuất Hiện”, số 96, Tăng Chi 3, Chương 6, còn ghi rành rành Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã dạy thế này: “Này các Tỷ-kheo, sự xuất hiện của sáu sự kiện khó tìm được ở đời. Thế nào là sáu? Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời; sự xuất hiện của người thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết khó tìm được ở đời; sự tái sanh trong Thánh xứ khó tìm được ở đời; không khiếm khuyết các căn khó tìm ở đời; không si mê, không câm ngọng khó tìm ở đời; ước muốn thiện pháp khó tìm được ở đời. Này các Tỷ-kheo, sự xuất hiện của sáu sự kiện khó tìm được ở đời”.
Sadi Tâm Định khẽ nhíu mày:
_ Đúng là có đoạn kinh đó! Nhưng… tôi vẫn chưa hiểu rõ.
Chư Thiên Dotricai lại thở mạnh:
_ Hừ! Đến Hòa Thượng tiến sĩ còn không hiểu nổi, huống hồ là chú. Bởi, nếu có người hiểu thì đâu đến nỗi. Nghe này, đoạn kinh trên hiểu rộng ra có nghĩa là trên đời vốn có rất nhiều kẻ ước muốn tà pháp; rất đông người si mê, câm ngọng; đa số khiếm khuyết các căn: có mắt như mù, có tai như điếc; phần lớn tái sanh trong đọa xứ. Nhưng khốn thay lại rất hiếm có người thuyết giảng đúng chánh Pháp và Luật do chính Đức Như Lai tuyên thuyết. Cho nên mới có chuyện Như Lai vạn kiếp khó tìm, thế nhưng trong kinh Đại Thừa lại có nhiều như cỏ chứ sao. Mọi người bị rơi vào bẫy của các luận sư Bà-la-môn gián điệp, tầm thường hóa danh hiệu Phật mà không biết!
_ À, tôi đã hiểu rồi! Nhiều ma giả Phật, nên mới lắm Phật nhiều ma.
_ Chứ còn gì nữa. Băn khoăn của chú, kinh Nikaya gọi là nghi triền cái, nếu không biết đoạn trừ sẽ khó mà định tâm. Thậm chí cứ tin bừa “Bụt giả, Phật dỏm” còn bị đọa địa ngục nữa đấy. Bây giờ chú có thể an tâm tiếp tục tu tập thiền định rồi đấy .
_ Đúng thế! Cảm ơn ngài. Chư Thiên như ngài thực khó tìm.
_ Không dám! Trong Kinh gốc còn nhiều điều hay lắm. Tham khảo đúng chánh pháp và mọi nỗ lực đúng hướng sẽ không uổng phí đâu. Cố lên!
Nói xong chư Thiên Dotricai xoay người biến mất.
Thiên Nam

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Đố hay, thoát khổ


Trong cuộc thi “Đố hay, thoát khổ” có đề bài như thế này:
Thí sinh hãy đọc kỹ các câu sau đây rồi trả lời câu hỏi
1. “Nếu mọi người ăn cỏ, thế giới sẽ đổi thay” (BS)
2. “Nếu mọi người ăn chay, thế giới sẽ thay đổi” (BLM)
3. “Nếu mọi người tam tịnh, thế giới sẽ diệu kỳ” (PT)
Câu hỏi:
a) Các chữ viết tắt BS, BLM, PT nghĩa là gì?
b) Vì sao “Nếu mọi người tam tịnh, thế giới sẽ diệu kỳ”?
Đáp án:
Câu (a): BS nghĩa là bàng sanh. BLM là Bà-la-môn. PT là Phật tử. Ba câu trên của ba đối tượng khác nhau, cần phân biệt.
Câu (b): “Nếu mọi người tam tịnh, thế giới sẽ diệu kỳ”, bởi vì:
Người ‘tam tịnh’ sẽ không tái sanh làm bàng sanh, vì loài này tuy hiền lành nhưng chỉ biết ăn rau cỏ, củ hạt.
Người ‘tam tịnh’ cũng không tái sanh vào làm súc sanh, vì loài này thịt gì cũng nhai, kiểu gì cũng nuốt, thích ăn tươi nuốt sống kẻ khác.
Người ‘tam tịnh’ chỉ tái sanh hoặc tái nghiệp trong môi trường ‘tam tịnh’ và chỉ có Đạo Phật Chính thống mới có giới này. Các loài khác nhờ có nhân duyên với người ‘tam tịnh’ nên được tịnh theo. Thế giới sẽ diệu kỳ là vì vậy.
Tuy nhiên cần lưu ý, phải giữ tròn năm giới mới được tái sanh làm người, bằng không phải tái sanh làm súc vật trong gia đình ‘tam tịnh’ cũng khổ.
Đúng như Đức Phật đã dạy, ngoại học chỉ cần hiểu Ngài một câu thôi cũng đỡ khổ cho họ rồi. Biết trả lời đầy đủ hai câu hỏi trên là thoát khổ rất nhiều, chính vì thế nên mới nói ‘Đố hay, thoát khổ’.
Thích Tam Tịnh

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Kinh Vô tự


- Này huynh, có người nói rằng trong các loại Kinh, chỉ có kinh vô ngôn vô tự, tức kinh không lời không chữ, là kinh cao siêu nhất, tối thượng nhất.
- Kinh ấy do người câm mù thuyết cho người mù câm học à?
- Huynh đừng nói bậy. Chính Đức Phật đã dạy 45 năm thuyết pháp, Ta chưa từng nói một lời. Đó là nói đến kinh vô ngôn, vô tự đó!
- Huynh đừng tin bậy! Chính Đức Phật đã dạy trong Chánh Kinh Nguyên Thủy, Tăng Chi hai Pháp: 3. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết; và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.”
- Nhưng huynh căn cứ vào đâu bảo rằng Đức Phật không nói chuyện kinh vô ngôn vô tự, và có kẻ xuyên tạc Thế Tôn.
- Căn cứ vào trí tuệ suy tư phán xét. Tôi hỏi huynh nếu có thật “kinh vô ngôn” thì kẻ câm cũng thuyết được, nếu có thật “kinh vô tự” thì kẻ đại bịp láo khoét cũng dạy được. Chứ cần gì mấy ông Thiền sư điên khùng rởm đời ngớ ngẩn, ôm ba mớ “kinh tào lao” hù dọa những kẻ ngu si dốt nát.
- Sao huynh dám nói các Thiền sư là “điên khùng rởm đời ngớ ngẩn” và kẻ tin theo là ngu si dốt nát?
- Chứ gì nữa! Chính Đức Phật cũng đã dạy trong Kinh Tăng Chi: 2. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.”Ngay thời Phật mà đã có rất nhiều những kẻ ngoại học ác tâm giả lời Phật, xuyên tạc Pháp Phật, ấy thế mà lắm kẻ đời sau cứ bạ đâu tin đó, nghe làm sao lao theo nói tầm bậy.
- Nhưng huynh phải chứng minh Phật không nói kinh ‘vô ngôn vô tự’.
- Kẻ bịa ra câu ‘45 năm ta thuyết pháp nhưng không nói một lời’ rồi gắn vào miệng Phật rất thâm độc. Thứ nhất hắn ngầm xuyên tạc Thế Tôn là người nói mâu thuẫn, trước sau trái ngược. Thứ hai hắn xỏ xiên Phật là người câm, vì kẻ câm cũng có thể thuyết pháp mà không nói. Thứ ba hắn bịa chuyện kinh “vô ngôn vô tự” vừa để khỏa lấp việc phỉ báng Thế Tôn vừa nhằm hạ bệ Kinh Nguyên Thủy gốc của Phật. Thứ tư vẽ chuyện “vô ngôn vô tự” ra vẻ cao siêu sẽ dụ được những kẻ ngu si dốt nát nhưng thích ra vẻ ta đây là đại nhân, đại trí, đại thừa, đại bác.
- Thứ năm khiến những kẻ tin Phật nhưng ôm lấy tà kiến để rồi xuyên tạc Như Lai và phải đọa vào địa ngục.
- Huynh đã chứng đắc được ‘kinh vô ngôn vô tự’ rồi đó!
Hữu Ngôn Hữu Tự
_____________________
] Pháp Trích Lục
Dưới đây là một trong những lời khuyến giáo cuối cùng của Đức Thế Tôn tại giảng đường Kūṭāgāra vườn Ðại Lâm khi Ngài sắp nhập Niết Bàn:
“110. Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, nay những Pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các Pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính làBốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Thần Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề Phần, Tám Thánh Đạo Phần. Này các Tỷ-kheo, chính những Pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
111. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong Pháp và Luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.”
Lại nữa, đây cũng chính là lời dạy từ kim khẩu của Đức Thế Tôn:
“Từ đêm, này các Tỷ-kheo, Như Lai được chánh đẳng giác, đến đêm Như Lai nhập Niết-bàn, trong thời gian ấy, điều gì Như Lai nói, nói lên, tuyên bố, tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy, được gọi là Như Lai” (Tăng Chi 1, chương 4, trang 592).
{ Thừa tự Pháp trích lục
Ðức Thế Tôn đã dạy rành rành như vậy, đã nhắn nhủ chí tình như vậy, đã khẳng định dứt khoát như vậy; ấy thế mà vài trăm năm sau khi Ngài nhập diệt, những kẻ ác khẩu đời sau nảy nòi ra chuyện 45 Bụt chưa từng nói một lời. Khốn thay lại có những kẻ tin theo mới chết chứ.
Đúng là “kinh không lời - không chữ” chỉ dành cho những kẻ mù câm điếc Chánh Kinh Chánh Pháp của Đức Phật Thích Ca mà thôi.

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016

Kinh Cầu An chính thống của Đạo Phật



Chính Đức Phật Thích Ca đã dạy: “Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiyā này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiyā này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.”

Kinh A-sá-nang-chi
hay
(Kinh Hộ Trì Atānātiya - Atānātiya sutta)
(Kinh số 32, Trường Bộ 2)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), núi Gijjhakūta (Linh Thứu).
2. Bốn Thiên Vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhanda (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nāga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng, rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, Đại Vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết Pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu. Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích, không được đón mừng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng, ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không cho người thấy, thích hợp tịnh tu. Tại chỗ ấy, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, hãy học chú Atānātiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để họ được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tai họa.
Thế Tôn im lặng chấp thuận.
3. Rồi Đại Vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Atānātiya Hộ Kinh:
Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!
Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!
Ðảnh lễ Konāgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!
Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết Chơn Diệu Pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!
Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!
4.
Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.
Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.
Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimā, (phương Đông).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên Vương).
Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
5.
Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinā (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng,
Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virūlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
6.
Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.
Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,
Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimā (phương Tây).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng.
Chủ các loài Nāgā,
Danh Virūpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài Nāgā hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
7.
Bắc Lô Châu (Uttarakurū) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.
Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.
Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.
Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.
Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,
Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.
Các thành Atānātā,
Kusinātā, Parakusinātā, Nāttapuriyā, Parakusitannātā
Kapīvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatiya,
Alakamandā,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.
Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visānā.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.
Các sứ quán được tên:
Tatolā, Tattalā, Tatotalā,
Ojasi, Tejasi, Tatojasi,
Vua Sūra, Arittha, Nemi.
Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavati,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.
Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilā,
Ở đây, chim Jiva,
Kêu tiếng "Hãy sống đi",
Và tiếng chim kêu lên,
"Hãy khởi tâm thích thú".
Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,
Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamānavakā.
Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarā (phương Bắc).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.
Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
8. Tôn giả, Hộ Kinh Atānātiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atānātiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả,vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.
Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
9. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha.
Cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
10. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:
Inda, Soma, và Varuna,
Bhāradvaja, Pajāpati,
Candana, Kāmasettha,
Kinnughandu, Nighandu,
Panāda và Opamanna,
Devanita và Mātali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sātāgira Hemavata,
Punnuaka, Karatiya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessāmitta, Yugandhara,
Gopāla và Suppagedha,
Hirī, Settī và Mandiya,
Pancāla Canda, Alavaka,
Pajjunna, Sumana, Sumukha,
Dadhimukha Mani Mānicara, Dīgha,
Atha và Serissaka.
Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atānātiyā che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.
- Ðại Vương, Ðại Vương hãy làm điều gì Ðại Vương nghĩ là phải thời.
11. Rồi bốn vị Đại Vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất tại đấy.
Các vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất tại chỗ.
12. Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị Đại Vương cùng với đại quân sư Dạ-xoa đến Ta và đọc lên bài Atānātiya Hộ Kinh như sau:
13.
“Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!
Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!
Ðảnh lễ Konāgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!
Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết Chơn Diệu Pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!
Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!
14.
Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.
Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.
Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimā, (phương Đông).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên Vương).
Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
15.
Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinā (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng,
Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virūlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
16.
Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.
Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,
Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimā (phương Tây).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng.
Chủ các loài Nāgā,
Danh Virūpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài Nāgā hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
17.
Bắc Lô Châu (Uttarakurū) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.
Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.
Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.
Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.
Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,
Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.
Các thành Atānātā,
Kusinātā, Parakusinātā, Nāttapuriyā, Parakusitannātā
Kapīvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatiya,
Alakamandā,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.
Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visānā.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.
Các sứ quán được tên:
Tatolā, Tattalā, Tatotalā,
Ojasi, Tejasi, Tatojasi,
Vua Sūra, Arittha, Nemi.
Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavati,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.
Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilā,
Ở đây, chim Jiva,
Kêu tiếng "Hãy sống đi",
Và tiếng chim kêu lên,
"Hãy khởi tâm thích thú".
Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,
Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamānavakā.
Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarā (phương Bắc).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.
Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
18. Tôn giả, Hộ Kinh Atānātiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atānātiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả,vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.
Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
19. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha.
Cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
20. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:
Inda, Soma, và Varuna,
Bhāradvaja, Pajāpati,
Candana, Kāmasettha,
Kinnughandu, Nighandu,
Panāda và Opamanna,
Devanita và Mātali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sātāgira Hemavata,
Punnuaka, Karatiya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessāmitta, Yugandhara,
Gopāla và Suppagedha,
Hirī, Settī và Mandiya,
Pancāla Canda, Alavaka,
Pajjunna, Sumana, Sumukha,
Dadhimukha Mani Mānicara, Dīgha,
Atha và Serissaka.
Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atānātiyā che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.
- Ðại Vương, Ðại Vương hãy làm điều gì Ðại Vương nghĩ là phải thời.”
21. Rồi bốn vị Đại Vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về phía Ta rồi biến mất tại đấy.
22. Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiyā này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiyā này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.
23. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.

HT Thích Minh Châu dịch Việt

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Điên thực sự!


Sau nhiều gian nan thử thách, vượt qua chín lần chín tám mươi mốt hiểm nạn, cuối cùng Thiện Tài Đồng Tử đã tìm gặp được cô cháu gái đời thứ chín mươi của nữ cư sĩ Visakha.

Giờ đây cô cháu gái của bà Visakha vừa là y tá trong một bệnh viện tâm thần, vừa là thành viên của Gia Đình Phật Tử thế hệ mới. Thiện Tài Đồng Tử vừa thi lễ xong, liền cất tiếng hỏi:
_ Thưa cô, vì sao Trí Khải đại sư lại phán rằng Phật thuyết Hoa nghiêm trong 21 ngày ngay sau khi chứng đạo?
_ Vì nếu pháp hội ấy được Phật thuyết trong 45 năm hoằng pháp, thì tại sao trong kinh Nguyên thuỷ Nikaya, một tạng kinh ghi lại từ bao nhiêu tiền kiếp của Phật đến tận lúc Ngài nhập Niết Bàn, nhưng không có một dòng nào, người nào nhắc đến sự kiện dị thường ấy? Phán như vậy để hợp thức hóa sự xuất hiện vô lý, và khoả lấp đi sự tồn tại phi lý của kinh Hoa nghiêm.
Nhưng trong 21 ngày đầu tiên ấy năm anh em ông Kiều Trần Như còn chưa có, vậy tại sao hội Hoa nghiêm lại có các Thanh văn A-la-hán “câm điếc” như các ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-nan… cùng hàng ngàn các Tỳ-kheo khác?
_ Ông đi tìm Trí Khải đại sư mà hỏi. Tôi đã muốn điên vì những điều vớ vẩn trong cuốn kinh giả đó, giờ lại càng điên hơn vì những câu hỏi của ông.
Thiện Tài Đồng Tử chắp tay trấn an:
_ Cô không điên đâu, đừng lo!
_ Vì sao?
_ Vì chỉ có những kẻ tin bản kinh dỏm ấy và tin Trí Khải đại sư mới điên thực sự mà thôi!
_ Đúng vậy. Hãy đưa họ vào đây, tôi chữa cho!
Đại Tỉnh Thức

-------------------
Trích lục bài kinh "Mắng Nhiếc", số 211, Tăng Chi tập 2, Chương 5, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc

Đức Phật dạy: 

"- Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại. Thế nào là năm?

Phạm tội bị tẩn xuất, chặt đứt con đường hướng thượng;
hay phạm một tội nhiễm;
hay cảm xúc bệnh hoạn trầm trọng;
khi mạng chung tâm bị mê loạn;
sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại này." (Hết trích)

Ghi chú: Ai tin các kinh văn cải biến và cũng nghĩ rằng các Thánh Tăng A La Hán Thanh Văn như những kẻ 'mù, câm, điếc' trong pháp hội Hoa Nghiêm, như vậy có phải là họ đã 'mắng nhiếc, mạ lỵ các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh" không? Họ có ngây thơ tin theo 'kẻ lạ' để rồi gánh lấy năm sự nguy hại không?

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Ngộ


Lục Tổ Huệ Năng tuyên bố: “Người tuy có Nam Bắc nhưng Phật tính vốn không có Bắc Nam” (1).
Thế nhưng kinh Kim Cang, ngài ngộ, tính Phật lại dạy rằng: “…giáo pháp Đại thừa, nói cho những người đi theo giáo pháp Đại thừa tối thượng… bởi vì những ai ưa pháp Tiểu thừa, vẫn còn ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả” (đoạn 25) (2)
Thiệt ngộ! Phật tánh không phân biệt người Bắc kẻ Nam, nhưng tánh Bụt Kim Cang lại phân biệt kẻ Đại người Tiểu (?)
Vô phúc có người Bắc tu theo Tiểu Thừa, người Nam đi theo Đại Thừa thì tính sao đây? Nếu y theo tánh Bụt Kim Cang phân biệt, té ra Lục Tổ nói sai. Nếu tuân theo Lục Tổ vô phân biệt, hoá ra Bụt Kim Cang nói quấy.
Còn lươn lẹo ngụy biện tới lui, thật ra chẳng “bất lập văn tự” chút nào! 
Không biết Bụt Kim Cang và Lục Tổ, ai mới ngộ thiệt? Hay cả hai đều bị ngộ... độc bởi Bà-la-môn?
Ngộ thiệt!
Ưu Bà Di Kim Cương
______________________
(1) Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh 2008, tập 48, tr.348a18.

(2) Hẳn là kinh Kim Cang và Bụt Kim Cang do kẻ đời sau vẽ ra để phân hóa chia rẽ Phật giáo. Bởi, trong thời Phật Thích Ca không có chuyện Đại thừa, Tiểu thừa. Cho nên ai tin theo kinh Kim Cang có tu chứng, thì cũng chứng đạo tà chứ không phải đạo của Phật Thích Ca.