Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Hỏi Công An



Tại trường Siêu Cấp Phật Học, trong lớp nghiên cứu chuyên sâu dành cho các tu sĩ siêu cao, vị pháp sư đang thao thao bất tuyệt:

_ Chúng ta phải tin tưởng Bồ-tát Cật Ma Duy là hoàn toàn có thực. Theo Thế Giới Phật Giáo Thông Sử, tập thượng, có ghi rõ ngài là một trong năm đại Bồ-tát. Thực hơn nữa, kinh Nguyệt thượng nữ chép ngài Duy Ma họ Lôi, vợ là Kim cơ, con trai là Thiện tư, con gái là Nguyệt thượng… Do vậy chắc chắn Duy Cật Ma là người thật, kinh thật, việc thật. Nhờ biết tin ngài nên một số cư sĩ chỉ vì chuyện ăn chay, ăn mặn nhưng đã dám lớn tiếng mạt sát, phỉ báng, mạ lỵ, khinh thường các Tỳ kheo trưởng lão thuộc tông phái khác. Họ đều là con cháu của ngài Ma Duy Cật. Chúng ta chớ coi thường, phải luôn nể trọng.

Một tăng sinh hỏi:

_ Thưa pháp sư, từ xưa tới nay, tất cả các gián điệp thừa biết họ phải tạo ra những hồ sơ giả, lý lịch giả mới có thể thâm nhập vào hàng ngũ kẻ khác để phá hoại. Hơn nữa việc khơi khơi vẽ ra bà A là vợ ông B, ông B là bố thằng C, thằng C là em con D; một đứa con nít tám tuổi ưa nói láo cũng bịa được. Mặt khác, trong kinh văn gốc, không có bất kỳ một chứng cứ nào nói về nhân thân các “Bồ-tát đại thừa”, kể cả Bồ-tát Cật Ma Duy. Chúng ta lấy gì để bảo đảm các tài liệu sau này không phải là ngụy tạo, nhằm hợp thức hoá sự phỉ báng các Thánh Tăng A-la-hán, nêu gương xấu cho các cư sĩ coi thường chính tu sĩ của đạo mình?

Vị pháp sư khoát tay:

_ Hầy, chuyện đó các thầy phải hỏi bên công an!

- Tăng Sinh -
_________________

Ghi chú:

Chẳng cần gì phải hỏi công an, chỉ cần nghe Đức Phật dạy cho vua Pasenadi cũng đủ biết: “-- Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ, trong khi còn sống thọ hưởng các dục, bị con cái trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và bạc, thời Ðại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả” (S.i,7).

Thế đấy, theo lời Phật, một ông vua cư sĩ trí tuệ như Pasenadi còn không thể biết được vị nào là A-la-hán hoặc đang trở thành A-la-hán, vậy mà hằng trăm năm sau tại Trung Quốc xa xôi Đại Thừa giáo nảy nòi một ông cư sĩ Duy Ma Cật còn vợ con ái dục đùm đề lại to mồm dạy cả cho các Thánh Tăng A-la-hán!

Nhưng “kinh” Duy Ma dạy gì? Trong phẩm “Đường đi của Phật” nguyên văn có đoạn thế này: “vô minh với ái là giống của Phật, tham sân si là giống của Phật, bốn thứ thác loạn là giống của Phật, năm sự che phủ là giống của Phật, sáu nhập là giống của Phật, bảy thức xứ là giống của Phật, tám tà là giống của Phật, chín não là giống của Phật, mười ác nghiệp là giống của Phật. Nói tổng quát thì sáu mươi hai kiến chấp và hết thảy phiền não là giống của Phật” (Nguồn Internet)

Nếu “giống” của Phật là như thế, thì hạt giống của những kẻ nói và tin câu trên còn kinh khủng tới đâu? Nếu không phải hạt giống của Dạ Xoa, thì của ai vào đây?

Tất nhiên những kẻ thâm độc chẳng ngu dại gì đứng ngoài đạo Phật để phỉ báng Tam Bảo, và chúng cũng thừa xảo trá để biết ngụy biện cho những lời mắng chửi của mình nhằm đánh lừa những kẻ cả tin ngu dốt.

Những người trí nên tin vào đâu để khỏi đoạ vào địa ngục?

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2016

Pháp thân Ta Ma Đa


Vừa đi học về đứa cháu lại sà vào lòng bà, nhưng lần này bé làm ra vẻ nghiêm trang chứ không nũng nịu như mọi khi. Bé cố bắt chước giọng điệu chững chạc của người lớn:
_ E hèm... hôm nay... cháu sẽ kể cho bà nghe một câu chuyện cổ tích.
Thấy kiểu cách khác thường của đứa cháu, bà ngoại cũng bắt cười xòa, hồn nhiên khoe nguyên cả hai hàm răng trống trải:
_ Í chà, bữa ni ông trời đi vắng hay sao lại có chuyện ngược đời thế này. Ừ, bà cũng thích cổ tích lắm, cháu kể cho bà nghe nào!
Đứa cháu nhíu mắt nhìn trời như đang cố nhớ một điều gì, rồi vừa vói tay vuốt ve mái tóc bạc phơ của bà ngoại, bé vừa cất tiếng nhẹ nhàng như cô giáo:
_ Ngày xửa... ngày xưa... Ngoại biết hôn... có một ông vua tên là Ta Ma Đa. Ngài rất bác ái yêu thương hết thảy những ai biết vâng lời ngài, đến độ ổng tha bổng cho tất cả những tên diệt chủng, loạn luân, buôn người, giết mướn... Không những thế, ngài còn rước chúng vào hoàng cung của ngài và cho chúng được tha hồ an vui hưởng lạc, miễn sao chúng chỉ cần kêu tên ngài mười lần “Ta Ma Đa, Ta Ma Đa, Ta Ma Đa” là... xong ngay. Còn biết bao nạn nhân của những kẻ tàn ác, nếu không biết gọi tên ngài, dù họ có hiền lương nhân đức đến đâu chăng nữa, ngài cũng bỏ mặc chúng không thèm đếm xỉa tới...
Mới nghe đến đấy, bà ngoại đã tái mặt, trợn tròn mắt nhìn cháu như thấy một sinh vật ngoài hành tinh:
_ Trời đất thánh thần thiên địa ơi! Ai dạy cháu câu chuyện điên khùng như thế hả? Ông vua Ta Ma Đa của cháu chính là một tên tà ma đạochứ bác ái cái nỗi gì? Một người khôn ngoan hiền trí ai lại thực hànhđạo tà ma như vậy? Cháu phải vất bỏ ngay những câu chuyện cổ tích kiểu ma tà đạo như thế, nghe chưa!
Đến lượt đứa cháu tròn xoe mắt nhìn bà ngoại. Vân vê xâu chuỗi trong tay bà, bé ngạc nhiên hỏi:
_ Vậy tại sao ông A Di Đà của bà lại phát đại nguyện giống y như thế? Một lời nguyện phải được người khác thanh minh biện hộ, chắc chắn nó không phải là đại nguyện của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà chỉ là nguyện đại của một kẻ đạo đức giả, phải không thưa Ngoại?
Đoạn kết kiểu 1:
Bà ngoại giật thót mình, há hốc mồm như muốn khạc cục đờm trong cổ. Thế rồi, không hiểu sao, Ngoại của bé cứ lắp ba lắp bắp, lẩm cà lẩm cẩm rên rỉ như một người mất trí:
_ Nam mô ta ma đa... nam mô ta ma đa... nam mô ta ma đa...  
Đoạn kết kiểu 2:
Bà ngoại giật thót mình, hoát nhiên tỉnh ngộ. Như có một sức mạnh xốc bà đứng dậy, vung mạnh tay ném xâu chuỗi qua khung cửa sổ. Hai bà cháu nhìn nhau cười vang rồi đồng thanh niệm những câu mật chú bí hiểm mà chỉ có những người trí mới tự mình giác hiểu:
 _ Nam mô ta ma đa – đa ma ta – ma ta đa – đa ta ma – ta đa ma – ma đa ta...  
(Ghi Chú: Người đọc tùy ý muốn chọn đoạn kết nào cũng được, ưng cả hai cũng không sao, chuyện này cho không biếu không)

Cháu Nội


Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2016

Vì sao không nói?


Trong lớp học dạy về Tỷ giáo (so sánh Tôn giáo), một sinh viên hỏi vị giáo sư:
_ Thưa ngài, có khi nào Chúa Giê-su phán: “Ta là Chúa Cứu Thế đã thành, các con chiên là Chúa sẽ thành”?
_ Không khi nào!
_ Thưa, có bao giờ Thánh A-la nói: “Ta là Thánh Tối Thượng đã thành, các tín đồ là Thánh Tối Cao sẽ thành”?
_ Chắc chắn là không!
_ Thưa, vì sao?
_ Thật dễ hiểu, vì cái gì duy nhất, độc nhất mới quý, nhiều như cát sa mạc còn quý báu gì nữa. Có bao giờ một ông chồng khôn ngoan và tỉnh táo lại bảo vợ: “Ta là chồng đã thành, các ông khác cũng là chồng sẽ thành của nàng”?
_ Thưa, không bao giờ!
_ Có khi nào một người vợ hiền trí, thuỷ chung lại nói với chồng: “Ông là chồng đã thành, các ông khác cũng là chồng sẽ thành của tôi”?
_ Cũng không, thưa ngài!
_ Có khi nào một đứa con không điên dại, có hiếu nghĩa, biết thương cha kính mẹ, lại khoe khoang với hàng xóm láng giềng: “Đây là bố đã thành, các ông rồi cũng là bố sẽ thành của tôi”?
_ Dạ, không hề!
_ Có bao giờ một ông bố có trí tuệ và đạo hạnh lại dạy các con: “Cha là bố đã thành, tất cả đàn ông cũng là bố sẽ thành của các con”?
_ Không, thưa ngài! Thế nhưng, có thể ý của họ là nhiều kiếp trước mọi người đều là cha con, chồng vợ của nhau. Kiếp sau mọi chúng sanh có thể “tiến hóa” làm cha mẹ của mình.
_ Chẳng lẽ nhiều kiếp trước có nhiều vợ, nhiều chồng; vậy kiếp này mọi người đều có quyền ăn nằm lẫn lộn với nhau à? Chẳng lẽ kiếp sau con sẽ làm cha, vậy kiếp này có quyền đánh chửi người khác? Dù bao nhiêu đời kiếp thì cũng vẫn phải biết phân biệt Chúa và con chiên, Thánh nhân và đệ tử, con người và thú vật. Chỉ có những kẻ thiếu khôn ngoan, không tỉnh táo, mất trí tuệ mới vô phân biệt bừa bãi như vậy.
_ Thế nhưng tại sao kinh Đại thừa lại có câu: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”?
_ Vì các tổ sư gốc Bà-la-môn với ác tâm nham hiểm đã “gắn vào miệng Phật những điều ngài không bao giờ nói” (1) để tầm thường hoá danh vị Phật và để phân hoá, phá hoại Phật pháp. Tất nhiên chỉ có những kẻ ngu si, tà trí mới tin theo những điều gian ngoa ngụy biện của họ nên không thấy được điều nguy hại của nó. Hãy nhìn hiện trạng Phật giáo sẽ thấy. Đã có biết bao kẻ đạo hạnh chẳng ra gì nhưng vẫn vỗ ngực xưng tên hoặc mặc nhiên để kẻ khác xưng tụng mình là Phật sống, Phật chết, Phật bà, Phật mẫu, Phật gia… ấy vậy mà vẫn có lắm kẻ tin theo. Thậm chí một con khỉ cũng làm Phật được. Mỗi hội chúng có một ông Phật riêng, ngấm ngầm hơn thua với nhau khiến Phật giáo tan nát. Chúng sanh là những ai? Không lẽ súc sanh, ma quỷ cũng đồng 'Bụt tánh'? Các cậu có thấy được lưỡi câu hai móc của những kẻ ác hiểm chưa?
_ Vâng, thưa ngài, chỉ có điên mới không hiểu! Quả Đức Phật dạy không sai: “Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến” (2)
Đúng vậy! Chỉ có ác tâm đầy sân hận mới xuyên tạc Như Lai; và cũng chỉ vì ngu si tà tín nên mới tin theo những kẻ ác tâm, làm cái loa tuyên truyền cho họ, quay lại xúc phạm những bậc Thánh Trí, Hiền Nhân mà không biết. 
Giáo sư vừa kết luận xong, chuông reo báo hiệu hết giờ học. Các sinh viên vui vẻ ra về vì tiết học đã giúp họ biết được điều cần biết, hiểu được điều cần hiểu.
SV Học Phật
___________________
(1) Lời HT Thích Minh Châu.
(2) Tăng Chi 1, Chương 2, Phẩm Người Ngu.

Pháp Trích Lục

Trích kinh Vua Các Loài Rắn, Tăng Chi tập 1, Chương 4, VII. Phẩm Nghiệp Công Đức
 "Ðức Phật là vô lượng. Pháp là vô lượng. Chúng Tăng là vô lượng. Có lượng là các loài bò sát, các loài rắn, các con bò cạp, các con một trăm chân, các loại nhện giăng tơ, các con thằn lằn và các loài chuột. Ta đã làm sự hộ trì. Ta đã làm sự che chở, mong rằng các loài hữu tình sẽ bỏ đi. Ta đảnh lễ đức Thế Tôn. Ta đảnh lễ bảy vị Chánh Ðẳng Giác."

Thừa Tự Pháp Trích Lục
Ðức Phật là vô lượng’ có nghĩa là Đức Phật có vô lượng công đức, vô lượng trí tuệ và giới hạnh, vô lượng thiện lành, vô lượng tốt đẹp. Chính vì thế trong dòng luân hồi vô thỉ vô chung, trước sau chỉ có bảy vị Chánh Đẳng Giác mà thôi. Cho nên trong kinh Đại Bát Niết Bàn có những câu cuối cùng:
Khó thay sự chiêm ngưỡng.
Tôn nhan bậc Như Lai.
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một lần
.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Buông đao có thành Phật?

Chú thím Năm đang ngồi nói chuyện với nhau. Thím Năm:
_ Đạo Phật đúng là đạo từ bi. Dù tội ác như thế nào, nhưng đã “buông đạo lập địa thành Phật” ngay liền, hé ông.
Út Tèo ngồi gần đó liền vung tay:
_ Má nói dzậy, sau này con cứ tha hồ giết người cướp của, xong, buông đao lập địa cũng thành Phật ngay liền, hả má?
Chú Năm thở phì phì, lắc đầu quầy quậy:
_ Đó, bà thấy chưa, cứ nghe càn nói bậy, làm hư chính con cái mình chứ ai!
Thím Năm phân bua:
_ Tui nghe mấy thầy dạy thế, biết đâu!
_ Tui đã nói bà rồi, nghe bất kỳ ai nói Phật dạy thế này, Bồ-tát nói thế kia, bà phải hỏi họ liền ngay tức khắc: Phật dạy trong chánh Kinh nào? lúc nào? ở đâu? trang mấy? chương mấy? Vàng, kim cương người ta còn giả được. Giả lời Phật có khó gì? Bộ mấy thứ ác ma muốn phá đạo Phật chúng không dám mạo danh Phật gạt người hay sao mà cứ tin bừa?
Thím Năm chống chế:
_ Có thầy còn dẫn chứng ông Angulimala trong kinh nữa mà! Ổng giết tới 999 người, nhưng cuối cùng được Phật đến hoá độ, ổng thành A La Hán tức thì!
_ Kinh nào dạy như vậy, bà nói tui nghe? Sao Phật phải “đợi” ổng giết tới 999 người mới cứu? Sao Ngài không cứu sớm hơn để ổng đỡ giết người?
Thím Năm im re. Chú Năm nhẹ nhàng:
_ Tui đọc nhiều rồi, trong chính bài kinh Angulimala, số 86, Trung Bộ 2 và tất cả tạng Pali nguyên thuỷ không thấy nói ổng giết 999 người. Nó chỉ có trong luận giải của mấy ông Bà-la-môn mà thôi. Họ thổi bùng con số này để xuyên tạc luật nhân quả của Đạo Phật: cho dù ông Angulimala giết nhiều người nhưng vẫn được cứu rỗi dễ dàng. Bà hiểu không?
_ Mèn đéc, mấy ông Bà-la-môn hiểm ác thế sao?
_ Còn phải hỏi. Nếu họ hiền như bà thì Phật giáo đâu đến nỗi phải biến mất tại Ấn Độ. Bà nên nhớ thêm, trong Chánh Kinh có nói rõ, dù ngài Anguliama đã cố tâm hoàn lương, nhưng sau đó ngài vẫn phải cắn răng chịu đựng biết bao trận đòn thù vì nghiệp nhân quả. Để tui đọc chánh kinh cho bà nghe.
Nói xong, chú Năm đến bên tủ kinh sách lấy kinh Trung Bộ. Thím Năm ngồi ngay ngắn chăm chú.
_ Bà nghe nguyên văn này, “Rồi Tôn giả Angulimala buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Lúc bấy giờ, một cục đất do một người ném, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một cây gậy do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một hòn sỏi do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala. Rồi Tôn giả Angulimala bị lỗ đầu, chảy máu, bình bát bị bể, ngoại y bị rách, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy Tôn giả Angulimala từ xa đi đến, thấy vậy, liền nói với Tôn giả Angulimala: "Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn! Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn! Ông đang gặt hái ngay trong hiện tại quả báo của nghiệp mà đáng lẽ Ông phải chịu nấu sôi ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm". Đó, bà thấy chưa, nhân quả rõ ràng như thế chứ làm gì có chuyện buông đao lập địa là thành Phật dễ dàng.
_ Làm người tốt đã khó, Thánh tăng còn khó trăm bề, huống hồ thành Phật, ông nhỉ?
_ Đúng vậy, các luận sư Bà-la-môn vẽ ra câu quái ác ấy với nhiều thâm ý: Thứ nhất, dụ dỗ mấy kẻ ngây thơ như thằng Tèo con bà nghĩ xằng làm bậy. Thứ hai, phá hoại Chánh Pháp và thứ ba, tầm thường hoá danh hiệu Phật.
Nãy giờ im lặng nghe ba má nói chuyện, đến đây Tèo đã ngộ được nhiều điều, vội lên tiếng:
_ Hoá ra má con mình có “Pháp sư” bên cạnh mà không chịu học hỏi. Nghe lời ba, từ nay con chỉ tin chánh Kinh nguyên thuỷ của Phật mà thôi. Không căn cứ theo đây, nghe càn tin bậy mang tà kiến khó thoát khỏi địa ngục.
Chú thím Năm nhìn Tèo, rồi quay sang nhìn nhau mỉm cười sung sướng.
Thím Tư

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2016

Sám Hối Chân Kinh

Nhất Đăng đạo sư đích thực là vị truyền nhân chính thống của võ phái nổi tiếng Tiếu Lâm Tự, vốn là tiền thân của hậu bối Thiếu Lâm Tự. Đại sư Nhất Đăng sau nhiều năm tu luyện trên đỉnh Tuyết Sơn buốt giá, giờ đây với một tâm nguyện cao đẹp của kẻ cứu đạo độ đời, ngài quyết định xuống núi hành hiệp giang hồ, trừ tà hiển chánh, cứu thế độ nhân.
Một hôm, trong khi đại sư Nhất Đăng đang đi khất thực giữa một thị trấn ồn ào đô hội, ngài lấy làm ngạc nhiên bắt gặp những ánh mắt nghi ngờ xen lẫn khinh miệt của các thị dân đối với ngài. 
Vị cao tăng còn đang phân vân nghi hoặc, bỗng có một tiểu thí chủ từ trong quán trọ chạy ùa ra, níu chặt lấy vạt áo đại sư, khăng khăng nhất mực thỉnh mời ngài vào trong cao lâu để được cúng dường trai tăng. Linh tính báo cho vị cao tăng biết đây có thể là cơ hội để khám phá ra điều nghi vấn, thế nên ngài đành miễn cưỡng im lặng nhận lời.
Trong tửu quán chỉ có vị tiểu thí chủ là người duy nhất có thái độ sốt sắng, tự tay tiếp thức ăn loại cứng loại mềm cho đại sư, còn tất cả các thực khách khác đều giữ thái độ e dè, khi dễ. Nơi bàn đối diện với đại sư, một nhóm cái bang hành khất đang say sưa với rượu thịt cùng với những câu chuyện thời sự muôn thuở của họ.
Trưởng lão bang chủ cái bang liếc mắt nhìn vị khách tăng lạ mặt, cố ý nói lớn cốt để nhà sư và vị tiểu thí chủ cùng nghe:
_ Huynh đệ biết không, lão đạo sĩ thúi trụ trì chùa làng này phạm tội chủ mưu thông gian tà hạnh, cố ý hại người có chứng cớ rành rành. Thế nhưng lão vừa bị bắt lên quan phủ lại được tha về ngay. Vì quan và sư vốn là chỗ đồng môn với nhau nên họ cố tình bao che cho nhau. Bọn họ cứ luôn miệng huênh hoang ngụy biện, lờ tội cho nhau theo cái kiểu hý luận lập lờ đánh lận con đen “tội do tâm khởi, do tâm diệt”.
Một cái bang khác vờ như không nhìn thấy cái cau mày của nhà sư, thản nhiên giơ cao miếng đùi chó, hào hứng tiếp lời:
_ Cũng cái thuyết “tạo được, diệt được” ấy, nên mụ chủ quán thanh lâu đầu phố cứ đẻ được đứa con nào, mụ giết sạch đứa nấy. Mụ bảo với dân làng, những đứa con ấy do mụ đẻ ra nên cũng phải do chính mụ giết đi. Mỗi lần như thế, mụ đều giơ cao xâu chuỗi, hạt nào hạt nấy to bằng miếng thịt chó này này, miệng vừa lâm râm réo tên cúng cơm ai đó vừa ngâm nga: “tâm đã tịnh rồi, tội liền tiêu”.
Tên tiểu nhị đang dọn thức ăn cho khách tăng cũng quay sang góp ý:
_ Khắp thị trấn giờ đây toàn những bọn cô hồn, du thủ du thực. Chúng trộm cắpbày trò mê tín dị đoan, gạt người lấy của giữa ban ngày, đã thế còn ngang nhiên phủi tay vô tư như không có chuyện gì ầm ĩ. Sau khi ăn hàng xong, chúng còn nhìn nhau trâng tráo cười ha hả: “tội tiêu tâm tịnh thẩy đều không”.
Vị chủ quán nãy giờ mải lo công việc, giờ cũng tham gia nhiệt tình:
_ Tất cả cũng chỉ vì lão đạo sĩ thúi cứ luôn miệng khuyên nhủ mọi người: “Đó mới thực là chân sám hối”. Đúng là thứ giết người không gươm giáo. Mọi người đều kháo nhau “Miệng nhà quan có gang, có thép. Lưỡi đại lừa như rắn, như lươn”.
Nghe đến đây, Nhất Đăng Đại sư không thể tiếp tục ngồi yên được nữa. Nhanh như chớp ngài liền tung mình vươn tay túm chặt lấy viên chủ quán, nạt lớn:
_ Láo khoét! Các ngươi đừng hòng qua mắt ta. Làm gì có chuyện vô lý như thế? Bọn ngươi cố tình bịa chuyện để mỉa mai, vu khống, mạ lỵ người tu hành phải không?
Viên chủ quán bị giữ chặt cứng trong hai ngón tay như gọng kềm của vị khách tăng, y biết ngay đạo sư là bậc võ công thâm hậu, mặt lão liền biến sắc, hạ giọng run run:
_ Ấy chết, thưa đại sư, chúng con nào dám dối gạt ai, chỉ y giáo khẩu hành. Nói có sách mách có chứng, xin ngài xem đây.
Nói xong viên chủ quán mở bày cuốn kinh đang cầm trong tay cho vị khách tăng xem. Chỉ nhìn thoáng qua, Nhất Đăng đại sư đã phải giật mình vỡ lẽ. Thì ra nó đúng là quyển kinh dạy sám hối của bổn tự, nhưng do lâu ngày ngài ẩn tu xa lánh thế tục, không ngờ giờ đây nó đã bị kẻ xấu cải biên xuyên tạc đến như vậy.
Trong chớp mắt Nhất Đăng đại sư liền thi triển thần lực Biệt Phân Tuệ Chưởng, thổi một hơi phá nát cuốn kinh giả trong tay viên chủ quán. Mọi người còn chưa hết kinh hoàng đã thấy vị đại cao tăng vung cao tay áo, vận thần công theo thủ pháp Nhất Tâm Chỉ Quán, lấy ngón tay vạch những chữ khắc sâu xuống mặt bàn bằng đá cứng. Cả đám đông há hốc mồm kinh ngạc, nhất mực thán phục diệu lực vô song của vị đại sư.
Thế nhưng chưa ai kịp ngỏ lời tán thán, phút chốc đã thấy nhà sư xoay mình biến mất khỏi tửu quán. Đám thực khách đổ xô đến bên chiếc bàn đá, mọi người căng mắt nhìn bốn câu kệ còn nóng hổi với những đường nét sắc xảo thần kỳ ẩn hiện dưới làn khói trắng mờ ảo. Một lát sau dòng chữ mới hiện rõ, vị tiểu thí chủ vui mừng đọc lớn cho mọi người cùng nghe:
Tội do tâm khởi, do nhân quả diệt.
Nhân quả trả rồi, tội mới tiêu.
Tội tiêu tâm tịnh, nhân quả có.
Đó mới thực là chân sám hối.
Mọi người giật mình, không hẹn mà nên, tất cả đều hướng về núi Tuyết Sơn đảnh lễ, đồng thanh reo vang:
_ Thiện lai Đại sư! Thiện lai Đại sư!
Cũng từ đó tôn hiệu Thiện Lai Đại sư lan truyền khắp thiên hạ, danh chấn giang hồ, uy vũ trùm khắp, đến độ một số tà sư đã phải sợ hãi hoàn lương cải tà quy chánh, không dám tiếp tục lợi dụng tôn giáo làm điều càn quấy. 
Chỉ tiếc một điều, nhà văn Kim Dung đã không có duyên may diện kiến vị thần tăng ấy, nên ông đã không có dịp cậy nhờ ngài dẹp trừ bọn đạo sĩ thúi trong những tiểu thuyết võ hiệp của mình. Chính vì thế, cho đến nay, đây đó vẫn còn một vài “lão sư hổ mang”, ngựa quen đường cũ, nghiệp ác không chừa, cứ thản nhiên giữ nếp cũ thực hành “ngụy sám hối” như xưa.
Kim Zung Zăng
Ảnh: Internet

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Ngài A Nan A Hàm bị đồng tính???


Thật vậy, những ai đọc kỹ bài kinh Bệ Ha Đề, số 214, Trung A Hàm, lưu truyền ở phương Bắc có quyền đặt nghi vấn nêu trên. Thế nhưng để thấy rõ đúng sai, thật giả, chánh tà cần phải đối chiếu kinh "Bệ Ha Đề" với kinh "Bahitika" tương đương, số 88, Trung Bộ Pali, lưu truyền ở phương Nam.

Bài phân tích dưới đây so sánh từng đoạn tương đương của hai bài kinh nêu trên sẽ cho thêm một minh chứng về tà kinh ngụy tạo trong hệ thống kinh tạng của Phật giáo.

Hy vọng mọi người đọc xong sẽ nảy sinh sự "phân vân trí thức" cần thiết, đó là những kinh - luật - luận mà mình đang tin tưởng, thọ trì có thực sự của Đức Phật hay không, hay do 'kẻ lạ' đời sau sáng chế ra. Biết rõ điều này, tu hành mới mong giải thoát, mới không uổng công phí sức.

SO SÁNH
Kinh Bahitika, P88, (HT Thích Minh Châu dịch Việt từ nguyên bản Pali) 
Kinh Bệ-Ha-Đề, A214, (TT Thích Tuệ Sĩ dịch Việt từ bản Hán ngữ)

Chánh kinh Pali: "Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp cô độc).
Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Ði khất thực ở Savatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tôn giả đi đến lâu đài Pubbarama Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường) để nghỉ trưa."
Tà kinh A-hàm: "Tôi nghe như vầy: Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Tôn giả A-nan trú tại Xá-vệ, có chút việc tại Đông viên Lộc mẫu giảng đường. Lúc đó Tôn giả A-nan dẫn một thầy Tỳ-kheo ra khỏi Xá-vệ, đến Đông viên Lộc mẫu giảng đường. Công việc xong, Tôn giả dẫn thầy Tỳ-kheo trở về vườn Cấp cô độc, trong rừng Thắng."
Bình: Phật “du hoá” tại nước Xá-vệ thì hợp lý, nhưng “trong rừng Thắng, vườn Cấp Cô Độc” lại không hợp lý. Câu đúng phải là “Một thời Phật ngự tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc”.
Tà kinh A Hàm bịa thêm chuyện ông A-nan dẫn một Tỳ-kheo ra khỏi Xá-vệ làm gì? Hẳn nhiên, với đoạn văn úp mở trên, một người ngoại học chưa tin thánh hạnh nơi các Thánh Tăng có quyền nghi ngờ ông A-nan và vị Tỳ-kheo đã làm điều gì không đứng đắn.
Chẳng cần tìm đâu xa, sự úp mở “có vẻ đầy tội lỗi” này sẽ được chính ông A-nan trong tà kinh A Hàm không đánh tự khai. So sánh tiếp đoạn sau sẽ rõ.
***
Chánh kinh Pali: "Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala cưỡi trên con voi Ekapundarika và đi ra khỏi thành Savatthi trong buổi sáng sớm. Vua Pasenadi nước Kosala thấy Tôn giả Ananda từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với vị đại thần Sirivaddha:
-- Vị Tôn giả ấy, này Sirivaddha, có phải là Ananda không?
-- Thưa phải, tâu Ðại vương, Tôn giả ấy là Ananda.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với một người khác: -- Này Người kia, hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda, rồi thưa như sau: "Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ananda không có công việc gì phải làm gấp, thưa Tôn giả, mong Tôn giả hãy vì lòng từ chờ đợi một lát".
Tà kinh A-hàm: "Khi ấy Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la cỡi trên con voi Nhất-bôn-đà-lị cùng với Đại thần Thi-lị-a-trà từ thành Xá-vệ đi ra. Tôn giả A-nan khi ấy nhìn thấy Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la từ xa đi đến, bèn hỏi vị Tỳ-kheo đồng hành rằng: “Có phải là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la ấy không?” Vị Tỳ-kheo đáp: “Đúng vậy.”
Tôn giả A-nan liền tẻ xuống đường, lánh vào một gốc cây. Vua Ba-tư-nặc từ xa nhìn thấy Tôn giả A-nan nơi gốc cây bèn hỏi: “Này Thi-lị-a-trà, có phải là Sa-môn A-nan ấy không?” Thi-lị-a-trà đáp: “Đúng vậy.”"
Bình: Rõ ràng là ông A-nan trong A Hàm đã làm điều xấu xa tồi bại với vị Tỳ-kheo nên gặp vua Ba-tư-nặc phải “tẻ xuống đường lánh vào một gốc cây”, tuy vậy ông vẫn bị phát hiện “nơi gốc cây”. 
Nhưng không lẽ ông A-nan người tường thuật bài kinh này lại đặt điều tự nói xấu mình như vậy? Hẳn là không rồi! Chắc chắn đã có một ông A-nan giả thứ hai cũng biết “Như vầy tôi nghe” để vu khống ông A-nan thật. Khốn thay, vì quá tích cực và ấu trĩ nên ông A-nan giả đã “dấu đầu hở đuôi”.
Tất nhiên những ông A-nan giả này cũng chẳng sợ gì mà không chế biến ra các bản kinh ngụy tạo khác để đánh lừa con Phật, phá hoại Phật Pháp. Vì thế cứ nhắm mắt tin vào các cuốn kinh-dị-dạng xuất hiện sau này đều là của Phật giáo, đây quả là một điều ngây thơ đến rồ dại.
Hiểu ra việc này có người phải xấu hổ với cả những đứa con nít rành câu chuyện cổ tích “Cô bé quàng khăn đỏ”. Với chúng, để dễ dàng lường gạt kẻ khác, một con cáo tinh ma còn biết giả giọng người thân của mình, huống hồ…

***
Chánh kinh Pali: "-- Thưa Tôn giả Ananda, có phải Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?" 
Tà kinh A-hàm: "Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi: “A-nan, Đức Thế Tôn có hành những thân hành như vậy chăng? Tức là thân hành mà các Sa-môn, Phạm chí ghê tởm chăng?”
Bình: Câu hỏi của vua Pasenadi trong chánh kinh Pali quá rõ ràng, không cần giải thích gì thêm. Thế nhưng trong A Hàm, người đọc sẽ hiểu ngay ý vua Ba-tư-nặc muốn nói “thân hành như vậy” có nghĩa là thân hành “ghê tởm” của ông A-nan đã bị vua Ba-tư-nặc phát hiện (?) 
Rõ ràng miệng lưỡi ông A-nan giả quả là độc địa và hết sức… ngớ ngẩn. Bởi lẽ A-nan giả quên rằng mình đang là người thuật lại câu chuyện này. Có ai lại dại dột tự tố cáo chính mình như vậy? Chỉ có kẻ mạo ra bài kinh (tởm) này mới thế!
Đã là đồ giả thì bao giờ cũng dở. Kinh giả, “Thánh” giả cũng vậy!
***
Chánh kinh Pali:  "-- Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
-- Thưa Tôn giả Ananda, có phải Thế Tôn không làm các khẩu hành... không làm các ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
-- Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các khẩu hành, ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
-- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, điều mà tôi không thể nói lên một cách đầy đủ trong một câu hỏi, đã được Tôn giả Ananda nói lên một cách đầy đủ trong câu trả lời câu hỏi. Thưa Tôn giả, khi người ngu si, thiếu kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, mà không chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi không y cứ vào đấy và xem như là lõi cây. Nhưng thưa Tôn giả, khi người có trí, có kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, có chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi y cứ vào đấy và xem như là lõi cây".
Tà kinh A-hàm:  "Tôn giả A-nan đáp: “Đại vương, Như Lai không có những thân hành như vậy tức là thân hành mà các Sa-môn Phạm chí, những người thông minh trí tuệ và hàng thế gian khác ghê tởm.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong khen rằng: “Lành thay! Lành thay! A-nan, điều mà tôi không đủ khả năng để nói, kể cả những người thông minh trí tuệ, và những hàng thế gian khác, thì A-nan đủ khả năng. Này A-nan, nếu ai không nhận định kỹ mà đã chê bai hay khen ngợi thì tôi không coi đó là chơn thật. Này A-nan, Đức Thế Tôn có những thân hành như vầy, những thân hành mà các Sa-môn Phạm chí những người thông minh trí tuệ và những hàng thế gian khác ghê tởm chăng?”
Tôn giả A-nan trả lời: “Đại vương, Như Lai không bao giờ hành những thân hành như vậy, tức những thân hành mà các Sa-môn Phạm chí những người thông minh trí tuệ và những hàng thế gian khác ghê tởm.”"
Bình: Tại sao các dịch giả A-hàm đã lược bỏ không nhắc đến khẩu hành và ý hành mà chỉ nói về thân hành? Một đứa con nít có suy tư cũng hiểu rằng các ông gián điệp muốn cố tình “dịch tể” thêm vào cái “thân hành bất thiện” của ông A-nan chứ sao.
Theo Ba-tư-nặc A Hàm, điều mà ông và kể cả những người thông minh trí tuệ không đủ khả năng để nói nhưng ông A-nan “đủ khả năng” là gì? Ai cấm người đọc nghĩ rằng ông A-nan đã dám làm điều “thế gian ghê tởm” nhưng vẫn thản nhiên công nhận “thân hành như vậy” trước mọi người. Tà kinh A-hàm một lần nữa lại phơi bày sự thâm hiểm vốn có của mấy ông dịch sư qua câu nói hai chiều của ông Ba-tư-nặc.
Tại sao Tà kinh A-hàm lại biên dịch thêm vua Ba-tư-nặc gạn hỏi đến hai lần “thân hành như vậy” nơi Đức Thế Tôn? Hẳn là mấy ông “giả dịch” muốn khiến người đọc cũng giống như vua Ba-tư-nặc nghi ngờ Phật và A-nan nên mới hỏi tới hỏi lui như vậy.
Những ai còn tin A Hàm là kinh của Phật có hiểu ra những điều này không?

***
Chánh kinh Pali: "Nhưng thưa Tôn giả Ananda, thế nào là thân hành mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
-- Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì bất thiện".
Tà kinh A-hàm: "Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la lại hỏi: “A-nan, thế nào là thân hành?” 
A-nan đáp: “Đại vương, đó là những thân hành bất thiện.”
Bình: Câu hỏi và câu trả lời trong chánh kinh Pali quá rõ. Thế nhưng, theo A Hàm, chỉ những “thân hành bất thiện như vậy” của ông A-nan-giả mới là thân hành, còn những thân hành thiện thì không phải thân hành ư? 
Các dịch giả Tà kinh A-hàm chỉ cần lược bỏ vài từ trong Chánh kinh Pali là tức khắc câu trả lời của ông A-nan trở nên ngây ngô, ngớ ngẩn; và lời cải biên của họ trở thành thâm độc, nham hiểm vô cùng.
Với những tên nằm vùng trong tôn giáo, đặc biệt là những tay luận sư gián điệp, cảnh giác với họ không bao giờ thừa!
***
Chánh kinh Pali: "Tôn giả Ananda, sau khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda tường thuật lên Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vua Pasenadi nước Kosala rồi dâng tấm vải ngoại hóa lên Thế Tôn.
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:  -- Thật hạnh phúc thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Thật tốt đẹp thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Vua đã được yết kiến Tôn giả Ananda và được cúng dường".
Tà kinh A-hàm: "Sau khi vua đi không bao lâu, Tôn giả A-nan bèn đem chiếc y bệ-ha-đề đến trước Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi lui đứng một bên mà thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-lavì pháp mà bố thí chiếc y bệ-ha-đề này, vậy con xin Thế Tôn đặt chân lên trên chiếc y này để vương gia nước Câu-tát-la được tăng ích phước lành.”
Khi ấy Đức Thế Tôn bèn dẫm hai chân lên y bệ-ha-đề rồi bảo: “A-nan, nếu ông đã bàn luận những gì cùng Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hãy kể lại cho Ta nghe.” Khi ấy Tôn giả A-nan bèn kể lại hết những điều đã luận bàn cùng vua nước Câu-tát-la cho Thế Tôn nghe"
Bình: Hãy nhớ lại bài kinh Vương Tử Bồ Đề, số 85, Trung Bộ 2, trong đó Đức Thế Tôn nhất định không chịu bước lên tấm vải mới mà Vương Tử trải ra để cung đón Ngài. Cuối cùng Tôn giả A-nan phải giải thích lý do và vị Vương Tử đã phải từ bỏ thiện ý của mình:
“-- Thưa vương tử, hãy cho cuộn lại tấm vải, Thế Tôn không có đi bộ trên vải, Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém.
Rồi vương tử Bodhi cho cuộn lại tấm vải…”
Theo Pali gốc, Đấng Từ Phụ không nỡ dẫm lên tấm vải mới vì thương tưởng đến những người còn nghèo khổ, thiếu cơm ăn áo mặc. Thế nhưng A Hàm lại trái ngược hoàn toàn khi bịa đặt thêm chuyện Phật dẫm hai chân lên tấm y cúng dường của vua. Hình ảnh này có ý gì?
Tất nhiên là không hay rồi! Bởi, một người ngoại học có quyền cho rằng đó là hành vi kẻ cả khinh miệt đồ cúng dường và người cúng dường. Một người chưa tin Phật có thiện cảm với hành vi vô lý này không? Dĩ nhiên là không! Biết vậy, họ có thèm cúng dường bố thí cho các đệ tử Phật không? Đương nhiên là không! Biết điều này một ông vua chưa tin Phật còn muốn “vì pháp mà bố thí” không? Hẳn nhiên cũng không! Nếu chẳng may vua bị kẻ xấu gièm pha khiến tự ái “con trời” nổi lên, nổi trận lôi đình giận cá chém thớt, lúc này chết ai? Tất nhiên là mấy ông con Phật. 
Đấy, các tổ sư dịch giả Bà-la-môn đã hết lòng “quy y” và đổ công sức tạo dựng ra Tam tạng “vĩ đại” cho Phật giáo là như thế đấy!
Xin mọi người hãy thận trọng, chớ có tin… chớ có tin… chớ có tin…!!!
Kinh Sư Chánh Tư Duy

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Tu trở chứng


Có vị thiền sư tự tuyên bố mình đã chứng đắc. Một đệ tử sống lâu ngày với vị ấy nên biết rõ tánh khí của thầy, liền hỏi:

_ Thưa sư phụ, đã tu chứng rồi sao vẫn còn tham sân si?

_ Do tập khí!

_ Còn tập khí, sao gọi đắc chứng?

_ “Độ bao nhiêu niệm chúng sanh nhưng vẫn không thấy mình và chúng sanh được độ”: tu riết rồi không thấy đắc, phải trở chứng chứ sao!

Thực TrÍ sưu tầm

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Sợ nhân hay sợ quả?


Hai cư sĩ ngồi nói chuyện với nhau. Cư sĩ Nam Tông hỏi cư sĩ Tiểu Thừa:
_ Này ông, có vị dạy rằng: “Bồ-tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Ông nghĩ sao?
_ Còn gì nữa?
_ Chỉ vậy thôi!
_ Lời dạy không đầy đủ chứng tỏ trí tuệ còn nông cạn, tri kiến còn phiến diện.
_ Nghĩa là sao?
_ Người nói câu ấy chỉ biết có nhân quả ác, bất thiện mà thôi.
_ Thiếu chi mô?
_ Còn nhân lành thiện, quả an vui giải thoát tính sao? Chẳng lẽ Bồ-tát và chúng sanh cũng sợ à?
_ Ừ nhỉ, lời dạy một chiều, phiến diện.
_ Chừ ông sợ nhân hay sợ quả?
_ Không sợ nhân cũng chẳng sợ quả, khi nhân thiện lành được quả hỷ lạc. Phải sợ cả quả lẫn nhân, khi nhân ác hại gây quả khổ đau.
_ Ông dạy đầy đủ rồi đó! Nhưng này, nếu chỉ sợ nhân không sợ quả, thì sao?
_ Thì cứ đưa mặt cho người ta tát. Quả báo đó có nguyên nhân gì đâu mà sợ?
_ Nếu không sợ nhân chỉ sợ quả, mần răng?
_ Cứ tát bừa mọi người rồi chạy trốn!
_ Dạy hay nhỉ?
_ Pháp cao siêu mờ!
Thiện Trí Thức

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016

Tấn sĩ Phật Học


Ảnh Internet

Một đoàn viên trong Gia Đình Phật Tử thế hệ mới hỏi vị huynh trưởng cũng là thầy giáo dạy sử:
_ Thưa huynh trưởng, có phải đạo Bà-la-môn có trước Đạo Phật?
_ Đúng vậy! Huynh trưởng trả lời.
Em thành viên hỏi tiếp:
_ Thưa, có phải truyền thống ăn chay cũng có trong Bà-la-môn giáo?
_ Không sai! Huynh trưởng xác  nhận
_ Thưa, có phải xã hội Ấn Độ ngày nay vẫn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ củađạo Bà-la-môn và nhiều người cũng ăn chay?
_ Thực thế! Huynh trưởng gật đầu.
Em thành viên thắc mắc:
_ Vậy tại sao một du tăng học sinh thấy tại Ấn Độ có nhiều nhà hàng chay lại phán rằng đó là dấu tích của Phật Giáo còn để lại trong xã hội Ấn Độ?
Vị huynh trưởng vỗ vai bạn đạo trẻ:
_ À! Đó là vì nói theo kinh Pháp Môn Căn Bản, vị sinh viên ấy đã tưởng tri “đạo Bà-la-môn là Đạo Phật”.
Em thành viên mau miệng tiếp lời:
_ Và không biết tuệ tri “Đạo Phật là Đạo Phật”, cũng không biết tuệ tri “Tam tịnh nhục là tam tịnh nhục”?
Huynh trưởng mỉm cười sách tấn:
_ Em ráng học giỏi, mai mốt thi lấy bằng “Tấn sĩ Phật học”!
SV Học Phật

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Tranh luận, tránh luận

Ảnh Internet
Một chính trị gia vào tận trong rừng sâu để “lên lớp” cho vị tu sĩ ẩn lâm:
_ Ngài không làm chính trị - đó cũng là một thái độ chính trị.
Tu sĩ mỉm cười:
_ Vô lý! Chẳng lẽ không làm vệ sinh, đó cũng là một thái độ vệ sinh? Không làm tướng cướp, đó cũng là một thái độ tướng cướp? Không làm vũ nữ, đó cũng là thái độ vũ nữ? Xin đừng gắp lửa bỏ tay người.
Vị chính khách bẻ sang hướng khác:
_ Nhưng lịch sử cho thấy tôn giáo và chính trị luôn gắn liền nhau, không thể tách rời.
_ Nếu có như thế thì đó là chuyện của tôn giáo và chính trị. Đạo Phật không phải là tôn giáo, lại càng không phải là chính trị. Đạo Phật là con đường, là nếp sống giải thoát khỏi những điều đó.
Chính trị gia vẫn chưa chịu ngưng:
_ Thế sao có nhiều nhà sư được ca ngợi vì đã tham gia việc quân, việc nước, việc triều chính?
_ Nếu trước đó họ đã trả lại y áo cho Tam Bảo rồi trở ra đời lo thế sự, đây là nghiệp duyên của mỗi người, không nên lạm bàn. Và nếu họ có công đức thuộc “Bốn trọng ân”, người Phật tử cũng phải nhớ ơn họ. Nhưng cần xác định cho rõ: nếu họ còn đắp y mà làm thế sự, thì họ không phải là những tu sĩ đạo Phật làm chính trị, mà là những nhà chính trị mượn áo của đạo Phật. Trong Bát Chánh Đạo không có chánh chính trị, không có chánh quân sự.
_ Nhưng ngài cứ độc trú biệt cư thế này, có lợi ích gì cho ai?
_ Bản thân cuộc sống không màng danh lợi cũng là một bài pháp rồi! Ông không thấy lợi ích cũng phải!
_ Ngài sống ẩn cư trong rừng, có ai biết đến để hỏi pháp?
_ Đừng sợ không ai biết, chỉ sợ hạnh không tròn. Hương của giới thanh tịnh còn ngược gió tung bay nữa kia! Ngược lại, giới hạnh giữ không tròn, ham mê giữa chợ đời, càng dễ bị cuốn trôi. Riêng đối với tôi, có ai đến hỏi đạo thì được, chứ tranh luận thì... xin lỗi, tôi không có thời gian.
Nhà chính trị lại một lần nữa lái đề tài:
_ Giặc ngoại xâm đến đây, ngài có còn thời gian để tu hành?
_ Câu hỏi ấy ông nên dành cho vua quan, cho quân đội. Nhưng ông nên nhớ, tàn ác đến như vua Asoka, khi đã giác ngộ Phật pháp, lại trở thành lương thiện không ai bằng. Chúng tôi tu hành cũng là để duy trì những giá trị hướng thiện tuyệt vời này, để biến thù thành bạn, đổi giặc thành anh em. Tuy vậy, đối với những người đi tìm sự yên tĩnh để chiến đấu với chính bản thân mình, chống bốn lũ giặc sanh-già-bệnh-chết, đôi khi họ xem miệng lưỡi của kẻ khác cũng không thua gì giặc cướp. Trong những trường hợp như vậy, cách tốt nhất là… “tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. 
Vừa nói xong, vị tu sĩ ẩn lâm vội vàng chắp tay xoay người hướng về phía thất liêu, chạy vắt giò lên cổ cứ như bị ma đuổi.  
Vẫn chưa chịu thôi, lần thứ hai vị chính khách rủ thêm người bạn làm luật sư, cả hai cùng tìm đến tận thất của tu sĩ ẩn lâm để nói chuyện cho ra lẽ. Vừa đến nơi, cả hai đã thấy ngay trước cửa thất một tấm bảng lớn với dòng chữ rõ ràng: “TA KHÔNG TRANH LUẬN VỚI ĐỜI vì Ta tôn trọng nhận thức và cuộc sống của người đời, và Ta không bắt người đời theo ý của Ta. CHỈ CÓ ĐỜI TRANH LUẬN VỚI TA vì người đời không tôn trọng nhận thức và cuộc sống của Ta, và còn muốn bắt Ta theo ý của họ. Thật bất công!”.
Cả hai vị khách không mời mà đến nhìn nhau rồi quay lui. Khu rừng lại trở về sự bình yên vốn có của nó.

Ẩn Lâm Đạo Sư
_________________
Ghi Chú:
Trích Kinh Kosambiya, số 48, Trung bộ 1:
“… Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược… ”