Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016

Kinh Cầu An chính thống của Đạo Phật



Chính Đức Phật Thích Ca đã dạy: “Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiyā này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiyā này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.”

Kinh A-sá-nang-chi
hay
(Kinh Hộ Trì Atānātiya - Atānātiya sutta)
(Kinh số 32, Trường Bộ 2)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), núi Gijjhakūta (Linh Thứu).
2. Bốn Thiên Vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhanda (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nāga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng, rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, Đại Vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết Pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu. Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích, không được đón mừng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng, ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không cho người thấy, thích hợp tịnh tu. Tại chỗ ấy, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, hãy học chú Atānātiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để họ được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tai họa.
Thế Tôn im lặng chấp thuận.
3. Rồi Đại Vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Atānātiya Hộ Kinh:
Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!
Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!
Ðảnh lễ Konāgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!
Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết Chơn Diệu Pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!
Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!
4.
Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.
Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.
Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimā, (phương Đông).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên Vương).
Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
5.
Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinā (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng,
Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virūlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
6.
Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.
Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,
Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimā (phương Tây).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng.
Chủ các loài Nāgā,
Danh Virūpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài Nāgā hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
7.
Bắc Lô Châu (Uttarakurū) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.
Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.
Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.
Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.
Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,
Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.
Các thành Atānātā,
Kusinātā, Parakusinātā, Nāttapuriyā, Parakusitannātā
Kapīvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatiya,
Alakamandā,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.
Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visānā.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.
Các sứ quán được tên:
Tatolā, Tattalā, Tatotalā,
Ojasi, Tejasi, Tatojasi,
Vua Sūra, Arittha, Nemi.
Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavati,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.
Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilā,
Ở đây, chim Jiva,
Kêu tiếng "Hãy sống đi",
Và tiếng chim kêu lên,
"Hãy khởi tâm thích thú".
Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,
Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamānavakā.
Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarā (phương Bắc).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.
Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
8. Tôn giả, Hộ Kinh Atānātiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atānātiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả,vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.
Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
9. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha.
Cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
10. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:
Inda, Soma, và Varuna,
Bhāradvaja, Pajāpati,
Candana, Kāmasettha,
Kinnughandu, Nighandu,
Panāda và Opamanna,
Devanita và Mātali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sātāgira Hemavata,
Punnuaka, Karatiya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessāmitta, Yugandhara,
Gopāla và Suppagedha,
Hirī, Settī và Mandiya,
Pancāla Canda, Alavaka,
Pajjunna, Sumana, Sumukha,
Dadhimukha Mani Mānicara, Dīgha,
Atha và Serissaka.
Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atānātiyā che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.
- Ðại Vương, Ðại Vương hãy làm điều gì Ðại Vương nghĩ là phải thời.
11. Rồi bốn vị Đại Vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất tại đấy.
Các vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất tại chỗ.
12. Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị Đại Vương cùng với đại quân sư Dạ-xoa đến Ta và đọc lên bài Atānātiya Hộ Kinh như sau:
13.
“Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!
Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!
Ðảnh lễ Konāgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!
Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết Chơn Diệu Pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!
Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!
14.
Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.
Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.
Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimā, (phương Đông).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên Vương).
Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
15.
Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinā (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng,
Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virūlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
16.
Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.
Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,
Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimā (phương Tây).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng.
Chủ các loài Nāgā,
Danh Virūpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài Nāgā hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
17.
Bắc Lô Châu (Uttarakurū) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.
Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.
Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.
Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.
Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,
Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.
Các thành Atānātā,
Kusinātā, Parakusinātā, Nāttapuriyā, Parakusitannātā
Kapīvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatiya,
Alakamandā,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.
Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visānā.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.
Các sứ quán được tên:
Tatolā, Tattalā, Tatotalā,
Ojasi, Tejasi, Tatojasi,
Vua Sūra, Arittha, Nemi.
Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavati,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.
Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilā,
Ở đây, chim Jiva,
Kêu tiếng "Hãy sống đi",
Và tiếng chim kêu lên,
"Hãy khởi tâm thích thú".
Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,
Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamānavakā.
Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarā (phương Bắc).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.
Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
18. Tôn giả, Hộ Kinh Atānātiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atānātiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả,vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.
Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
19. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha.
Cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
20. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:
Inda, Soma, và Varuna,
Bhāradvaja, Pajāpati,
Candana, Kāmasettha,
Kinnughandu, Nighandu,
Panāda và Opamanna,
Devanita và Mātali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sātāgira Hemavata,
Punnuaka, Karatiya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessāmitta, Yugandhara,
Gopāla và Suppagedha,
Hirī, Settī và Mandiya,
Pancāla Canda, Alavaka,
Pajjunna, Sumana, Sumukha,
Dadhimukha Mani Mānicara, Dīgha,
Atha và Serissaka.
Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atānātiyā che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.
- Ðại Vương, Ðại Vương hãy làm điều gì Ðại Vương nghĩ là phải thời.”
21. Rồi bốn vị Đại Vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về phía Ta rồi biến mất tại đấy.
22. Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiyā này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiyā này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.
23. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.

HT Thích Minh Châu dịch Việt

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Điên thực sự!


Sau nhiều gian nan thử thách, vượt qua chín lần chín tám mươi mốt hiểm nạn, cuối cùng Thiện Tài Đồng Tử đã tìm gặp được cô cháu gái đời thứ chín mươi của nữ cư sĩ Visakha.

Giờ đây cô cháu gái của bà Visakha vừa là y tá trong một bệnh viện tâm thần, vừa là thành viên của Gia Đình Phật Tử thế hệ mới. Thiện Tài Đồng Tử vừa thi lễ xong, liền cất tiếng hỏi:
_ Thưa cô, vì sao Trí Khải đại sư lại phán rằng Phật thuyết Hoa nghiêm trong 21 ngày ngay sau khi chứng đạo?
_ Vì nếu pháp hội ấy được Phật thuyết trong 45 năm hoằng pháp, thì tại sao trong kinh Nguyên thuỷ Nikaya, một tạng kinh ghi lại từ bao nhiêu tiền kiếp của Phật đến tận lúc Ngài nhập Niết Bàn, nhưng không có một dòng nào, người nào nhắc đến sự kiện dị thường ấy? Phán như vậy để hợp thức hóa sự xuất hiện vô lý, và khoả lấp đi sự tồn tại phi lý của kinh Hoa nghiêm.
Nhưng trong 21 ngày đầu tiên ấy năm anh em ông Kiều Trần Như còn chưa có, vậy tại sao hội Hoa nghiêm lại có các Thanh văn A-la-hán “câm điếc” như các ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-nan… cùng hàng ngàn các Tỳ-kheo khác?
_ Ông đi tìm Trí Khải đại sư mà hỏi. Tôi đã muốn điên vì những điều vớ vẩn trong cuốn kinh giả đó, giờ lại càng điên hơn vì những câu hỏi của ông.
Thiện Tài Đồng Tử chắp tay trấn an:
_ Cô không điên đâu, đừng lo!
_ Vì sao?
_ Vì chỉ có những kẻ tin bản kinh dỏm ấy và tin Trí Khải đại sư mới điên thực sự mà thôi!
_ Đúng vậy. Hãy đưa họ vào đây, tôi chữa cho!
Đại Tỉnh Thức

-------------------
Trích lục bài kinh "Mắng Nhiếc", số 211, Tăng Chi tập 2, Chương 5, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc

Đức Phật dạy: 

"- Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại. Thế nào là năm?

Phạm tội bị tẩn xuất, chặt đứt con đường hướng thượng;
hay phạm một tội nhiễm;
hay cảm xúc bệnh hoạn trầm trọng;
khi mạng chung tâm bị mê loạn;
sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại này." (Hết trích)

Ghi chú: Ai tin các kinh văn cải biến và cũng nghĩ rằng các Thánh Tăng A La Hán Thanh Văn như những kẻ 'mù, câm, điếc' trong pháp hội Hoa Nghiêm, như vậy có phải là họ đã 'mắng nhiếc, mạ lỵ các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh" không? Họ có ngây thơ tin theo 'kẻ lạ' để rồi gánh lấy năm sự nguy hại không?

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Ngộ


Lục Tổ Huệ Năng tuyên bố: “Người tuy có Nam Bắc nhưng Phật tính vốn không có Bắc Nam” (1).
Thế nhưng kinh Kim Cang, ngài ngộ, tính Phật lại dạy rằng: “…giáo pháp Đại thừa, nói cho những người đi theo giáo pháp Đại thừa tối thượng… bởi vì những ai ưa pháp Tiểu thừa, vẫn còn ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả” (đoạn 25) (2)
Thiệt ngộ! Phật tánh không phân biệt người Bắc kẻ Nam, nhưng tánh Bụt Kim Cang lại phân biệt kẻ Đại người Tiểu (?)
Vô phúc có người Bắc tu theo Tiểu Thừa, người Nam đi theo Đại Thừa thì tính sao đây? Nếu y theo tánh Bụt Kim Cang phân biệt, té ra Lục Tổ nói sai. Nếu tuân theo Lục Tổ vô phân biệt, hoá ra Bụt Kim Cang nói quấy.
Còn lươn lẹo ngụy biện tới lui, thật ra chẳng “bất lập văn tự” chút nào! 
Không biết Bụt Kim Cang và Lục Tổ, ai mới ngộ thiệt? Hay cả hai đều bị ngộ... độc bởi Bà-la-môn?
Ngộ thiệt!
Ưu Bà Di Kim Cương
______________________
(1) Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh 2008, tập 48, tr.348a18.

(2) Hẳn là kinh Kim Cang và Bụt Kim Cang do kẻ đời sau vẽ ra để phân hóa chia rẽ Phật giáo. Bởi, trong thời Phật Thích Ca không có chuyện Đại thừa, Tiểu thừa. Cho nên ai tin theo kinh Kim Cang có tu chứng, thì cũng chứng đạo tà chứ không phải đạo của Phật Thích Ca.

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Oan Thị Mầu!


Hai đạo sĩ cùng bị thác sanh vào địa ngục, liền khấu kiện Diêm Vương. Cả hai than khóc, tấu nỗi oan khiên:
_ Thưa Diêm Vương, hẳn là có sự nhầm lẫn. Cả đời chúng tôi không làm ác, chí tâm hành đạo, thế nhưng vì sao chết lại bị đọa vào địa ngục thế này?
_ Các ông không làm ác như thế nào? Diêm Vương hỏi.
Đạo sĩ thứ nhất mau miệng:
_ Dạ thưa, tôi luôn tâm niệm và giảng dạy mọi người phải biết xem thường pháp thấp của Tiểu Thừa, không chấp vào nhị biên, phải theo đại giáo cao siêu để thấy “Phiền não tức Bồ-đề”
Ngay lập tức Diêm Vương đập bàn, quát:
_ Thì giờ đây ngươi được vào địa ngục đầy phiền não để tha hồ hưởng thọ “Bồ-đề” của mình, còn đòi hỏi gì nữa?
Diêm Vương hất hàm nhìn đạo sĩ thứ hai. Vị này rụt rè, sợ hãi:
_ Dạ, còn con chỉ cả đời sách tấn, khuyên ngăn mọi người đừng theo pháp của hàng Thanh Văn hạ căn thiểu trí, mà phải tu theo Bồ-tát đại hạnh, lấy “Sanh tử là Niết Bàn”
Diêm Vương lại gầm lên:
_ Chính nơi đây chứ còn đâu nữa, mỗi phút giây trong địa ngục này, ngươi đều được chết đi sống lại nhiều lần để tha hồ chứng nghiệm “Niết Bàn” của mình. Nghiệp báo này do chính các ngươi tạo ra, chứ còn ai vào đây?
Cả hai đạo sĩ vẫn còn ấm ức:
_ Nhưng thưa ngài, chúng tôi chỉ y kinh mà nói.
_ Kinh gì?
_ Dạ, kinh Đại Thừa.
_ Xuất hiện lúc nào?
_ Sau khi Phật nhập diệt hàng trăm năm.
_ Do ai kết tập và xiển dương?
_ Thưa, do các bồ tát, tổ sư, luận sư gốc Bà-la-môn.
Nghe đến đây Diêm Vương nhỏm hẳn người dậy:
_ Đó, đó chính là chỗ đáng tội của các ngươi, cứ nghe càn tin bậy để rồi ôm giữ tà kiến.
Hai oan gia cố biện bạch:
_ Nhưng các vị đại luận sư của chúng tôi, ai nấy cũng đều quy y Phật, cạo đầu đắp y, các kinh văn do họ kết tập đều ghi là Phật thuyết.
_ Những kẻ gián điệp muốn phá Phật pháp không làm nổi việc như thế hay sao? Chẳng lẽ họ lại tự vỗ ngực xưng tên rồi bảo các ông quay lại chê bai kinh thật, pháp thật để cho bị tẩy chay à? Họ chỉ có một cách duy nhất là ngụy trá làm gián điệp, giả danh lời Phật mới dụ được những kẻ cả tin như các ông, mới xúi được các ông chống báng khinh thường chính nguồn gốc của mình, rõ chưa? Ai đã từng khuyến cáo các ông chớ có tin càn cho dù đó là kinh điển, truyền thống hay đạo sư của mình? (1)
Nói xong, Diêm Vương chỉ tay về hướng một tội nhân đang phải chịu cực hình khủng khiếp, cất tiếng hỏi hai vị oan gia:
_ Các ngươi có biết tội nhân ấy là ai không?
Cả hai đạo sĩ nhìn nhau rồi lắc đầu:
_ Thưa không.
Diêm Vương thở phì:
_ Các ngươi đã nghe đến cái tên “Migalaṇḍika” bao giờ chưa?
Hai đạo sĩ càng ngơ ngác hơn nữa:
_ Dạ chưa.
Diêm Vương ngán ngẫm:
_ Đúng là ngây thơ, thiếu trí tuệ như các ngươi nên mới cả tin, mắc bẫy những kẻ gián điệp ngụy trá mà không biết. Migalaṇḍika chính là một sa-môn giả hiệu ngay trong thời Đức Phật, y chui vào hàng ngũ tăng đoàn để thừa cơ hội mỗi ngày giết chết hàng chục vị Tỳ-kheo. Các ngươi không tin hãy mở tạng luật Pātimokkha mà đọc. (2)
Diêm Vương chỉ tay sang một đám đông tội nhân khác, nạt lớn:
_ Bên cạnh Migalaṇḍika còn có rất nhiều các sa-môn, Bà-la-môn khác mang dã tâm phá hoại Chánh Pháp và giờ đây bọn họ đang phải trả giá cho tội ác của mình. Có kẻ bỏ công theo dõi Đức Phật hàng tháng trời để tìm sơ hở sai lầm của Đức Thế Tôn nhằm vu cáo phỉ báng Ngài. Lại còn những kẻ ác tâm khác như Potaliputta, Sonakāyana, Sanjaya, Nigantha NataputtaMagandiyaLohicca, Paccaniikasāta, Vassakāra,BhāradvājaBrahandu v.v... tất cả bọn họ đều biết ngụy trá rằng chính tai họ nghe Phật nói thế này, dạy thế kia để xuyên tạc lời Phật, đánh lừa con Phật, phá hoại Phật Pháp. Các ngươi không tin hãy đọc kỹ kinh Nikaya sẽ rõ. (3).
Thở dài một hơi, Diêm Vương chép miệng ngao ngán:
_ Chánh pháp không đọc, đi đọc tà pháp. Chánh đạo không dạy, đi dạy tà đạo. Đại nhân quân tử không tin, đi tin tiểu nhân nguỵ trá. Tội ấy do ai? Có phải các ngươi đã bị oan như... Thị Mầu không?
Đến đây cả hai tội nhân cúi đầu im lặng. Diêm Vương nghiêm giọng:
_ Như ta đây còn biết, chỉ có “diệt phiền não mới chứng được Bồ-đề của Phật”, phải “đoạn sanh tử mới đắc Niết Bàn của Như Lai”. Chỉ có những kẻ chấp tà kiến, tưởng tri Niết Bàn là Niết Bàn, tưởng tri Bồ-đề là Bồ-đề mới nói như các ngươi. Đức Phật đã nhiều lần tuyên bố, “Kẻ ôm tà kiến chỉ có hai sanh thú: địa ngục hoặc bàng sanh” (4)Vì các ngươi đã mang tà kiến lại còn đi gieo rắc tà kiến cho kẻ khác nên làm bàng sanh cũng không được. Vào địa ngục là đúng, còn oan khuất gì nữa?
Nói xong, Diêm Vương quay sang bọn ngục tốt hét lớn:
_ Bay đâu! Hãy cho hai tà kiến nhân này vào chung ngục hình với các tiền bối của họ để tất cả cùng hưởng thọ “Bồ-đề phiền não” và “Niết-bàn sanh tử” của họ, làm gương cho những kẻ khác, mau lên!
Phán Quan
----------------------------
(1) Kinh “Các Vị Ở Kesaputta” (AN 3:57)
(2) Chương Pārājika thứ ba, Phân Tích Giới Tỳ-khưu I
(3) Vài kinh điển hình trong hàng trăm dẫn chứng:
Trung Bộ số 36, 58, 75, 90, 136...  
Tăng Chi Bộ: (AN 3:57-128), (AN 4: 35 - 187 - 233), (AN 8:12), (AN 10:94)...
Tương Ưng Bộ: (S.i,113 - 122 - 161 - 179), (S.iv,116 - 330)...
Tiểu Bộ: (SN 12 - 80), (Ud 13 - 28 - 38 - 39 - 44 - 51 - 60 - 78 - 79...)
(4) Kinh Tương Ưng (S.iv,306) + (S.iv,308)

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Bồ-tát cứu thế


Bé gái nói với bà:

_ Ngoại ơi, cháu nghe bà tụng kinh mỗi ngày, riết cũng thuộc nằm lòng nữa đấy!

_ Úi chu choa, cháu của bà giỏi thế cơ à! Hãy bố thí pháp cho bà nghe nào!

_ Dạ! Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Hạnh nguyện Phổ Hiền Bồ-tát, Bồ-tát Phổ Hiền phát đại nguyện thứ mười: Nếu chúng sinh vì làm bao nghiệp dữ mà bị những quả khổ nặng nề thì tôi chịu thay hết cho họ, làm cho họ được giải thoát, cứu cánh thành đạt vô thượng bồ đề” (*)

Bà Ngoại chắp hai tay lên đầu:

_ Ôi, đấng Bồ-tát cứu thế của con! Nám mô Đại nguyện Phổ Hiền Bồ-tát Ma ha tát!

Bé gái liền vung dao hét lớn:

_ Bà ơi, như vậy từ nay cháu cứ tha hồ làm ác, thoải mái tạo tội, mặc tình gây nghiệp dữ cũng không còn sợ quả báo địa ngục gì nữa, vì đã có Bồ-tát Phổ Hiền gánh hết tội lỗi cho cháu rồi, phải không thưa ngoại?

Bà Ngoại la hoảng:

_ Oái! Má ơi, tía ơi, bà cố ơi cứu con!

Hoàng Vi sưu tầm
___________________________
(*) Trích nguyên văn trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch của HT Thích Trí Quang

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

Phật Pháp Nhuộm Màu


Hỏi: Theo “Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ” bản in 1986, HT Thích Minh Châu đã phải bộc bạch như sau: 
“Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà-la-môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy
Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà-la-môn, đã khôn khéo xuyên tạc Đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành
Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng rực rỡ của chân lý quét sạch”.
HT Thích Minh Châu đã biết như thế, thấy như thế nhưng tại sao sau đó ngài lại “im lặng”, không tiếp tục nêu rõ những ác ý, những dụng tâm hiểm độc của các tổ sư gốc Bà-la-môn để cho ánh sáng chân lý quét sạch những cuồng vọng đen tối?
Thích Đại Xa: Dù HT Thích Minh Châu có công rất lớn dịch mấy bộ kinh Pāli Tiểu… Nguyên Thuỷ, thế nhưng không phải vì thế rồi ổngmuốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết. HT cũng phải biết tuân thủ “luật im lặng” của “xã hội vàng” chứ. Nếu mọi người cứ nói năng lung tung như vậy dẫn đến loạn tám mươi bốn ngàn xứ quân thì khốn.
Cho nên mấy lần tái bản sau này có “Như Lai sứ giả” nào dám in lại lời giới thiệu dễ gây đụng chạm, xúc phạm của HT đâu. Bây giờ thời đại xa lộ thông tin với cái in-tờ-nét lộng hành nên ai đó mới lôi nó ra, chêm vào bản in vi tính cho thiên hạ dòm, đúng là vạch áo cho người xem lưng, chẳng biết tế nhị gì cả; đã thế lại còn đem ra hỏi nhau cho thêm phần rắc rối. Quả thực nhàn cư vi bất thiện, ở không sinh lắm chuyện.
Những kẻ thích vạch lá tìm sâu nên biết thêm điều này để răn mình, đó là tương truyền ngay sau khi “Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ” được phát hành đã có hai vị Hòa Thượng đầu đàn đến tận văn phòng của Tiến sĩ Thích Minh Châu để “hỏi thăm sức khoẻ và làm việc”.
Nội dung câu chuyện chỉ có ba người biết, nhưng sau đó Tỳ-kheo Thích Minh Châu đã phải “im lặng” như nai. Chỉ cần một phần mười sáu trí tuệ của thám tử Xê-lốc-hôm (Sherlock Holmes) cũng có thể phán đoán vài mẫu đối thoại đại loại như sau:
Hòa Thượng A: -- Này chú em Minh Châu! Tiểu đệ đừng ỷ mình là tu sĩ có bằng Tiến sĩ Phật học đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam rồi muốn giới thiệu như thế nào thì giới thiệu đấy nhá!
Tiểu đệ muốn ngồi yên với cái chức Viện trưởng Viện Vạn Hạnh, hay muốn được xây tháp xá lợi sớm, hay làm du tăng khất sĩ rồi “vắng bóng" một đi không trở lại như ai đó thì cứ việc nói. Chuyện đó đối với các sư huynh không khó giải quyết đâu.
Các sư huynh đây có kinh nghiệm đầy mình trong giai đoạn “pháp nạn” cơ mà, đương đầu với cả một chế độ độc tài gia đình trị với bao nhiêu quân đội, vũ khí các huynh còn không ngán, nhằm nhò gì một ngòi bút với vài giọt mực của tiểu đệ.
Hòa Thượng B: -- Hay tiểu đệ muốn an dưỡng ngoài tuyết giá rồi tự chặt tay sám hối như tổ Huệ Khả cũng được, việc “thượng minh” rồi “hạ châu” như vậy, các huynh đây đều lo liệu được cả.
Chắc tiểu đệ còn nhớ tích truyện trong “Hán Sở Tranh Hùng”, kẻ đưa Hàn Tín lên làm tể tướng là Tiêu Hà thì kẻ chém đầu Hàn Tín được cũng là Tiêu Hà, đúng không?
Vả lại “nan hổ địch quần hồ”…, à không “một con én không làm nổi mùa xuân”…, à quên “một hạt cát chẳng làm nên sa mạc, một hạt tuyết chẳng thể tạo mùa đông”. Tiểu đệ à! Suy tính cho kỹ đi chú em!
Tôi nhắc nhở chuyện này để những kẻ theo sau cứ liệu hồn mà hỏi!
Thích Tiểu Xa: Thực ra ngay trong bản luận án tiến sĩ “So sánh Kinh Trung A Hàm chữ Hán và Kinh Trung Bộ chữ Pāli”, HT Thích Minh Châu đã tốn thêm nhiều công sức nhằm giúp mọi người thấy rõ hơn thâm ý của các tổ sư gốc Bà-la-môn.
Hơn thế nữa, trong những dịp thích đáng, HT đều có nhã ý tặng cho mỗi vị chức sắc trong giáo hội một quyển để tham khảo, nhưng khốn nỗi các ngài mải lo những chuyện đại sự khác như: thi đua xây dựng chùa to, Phật lớn; tạo thùng phước sương vĩ đại, lấy bằng cấp học vị… cho nên họ đã bỏ qua một bên những ý kiến “lung tung” của HT. 
Vả lại, có lẽ HT Thích Minh Châu “muốn” thực hiện đúng theo lời dạy của Đức Thế Tôn trong Kinh Tăng Chi tập 1, Chương 2, phẩm Tâm Thăng Bằng (IV), trang 130-131:
 “…Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các ác Tỷ-kheo cường mạnh, trong khi ấy, các thuần tịnh Tỷ-kheo yếu đuối.
Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo thuần tịnh giữ thái độ im lặng, hoặc ẩn mình giữa chúng Tỷ-kheo, hoặc đi đến các quốc độ biên địa.
Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là bất hạnh cho đa số, là không an lạc cho đa số, là không lợi ích cho đa số, là bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.”
Nhưng giờ đây, thời đại mới sẽ phải đúng như điều chánh biến tri của Đức Phật:
“…Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các thuần tịnh Tỷ-kheo cường mạnh, trong khi ấy, các ác Tỷ-kheo yếu đuối.
 Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, các ác Tỷ-kheo giữ thái độ im lặng, hoặc ẩn mình giữa chúng Tỷ-kheo, hoặc đi các chỗ khác.
Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạnh phúc cho đa số, là an lạc cho đa số, là lợi ích cho đa số, là hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.”
Mỗi người con Phật hãy là các thuần tịnh Phật tử cường mạnh, tích cực phổ biến lõi cây Chánh Pháp Nikāya và Pātimokkha, hộ trì đúng Phật Pháp Chánh tông để gieo duyên lành, tạo phước báu cứu mình cứu người thoát khỏi mê lầm của tà kiến, tà pháp nguy hiểm.
Có vậy chúng ta mới đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số; đem lại hỷ lạc, hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người.
Theo đó những pháp nào mà những người con Phật cần thọ trì, tu tập, xương minh, quảng bá? Chính Đức Thế Tôn đã dạy rõ:
“Này Cunda, thế nào là những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người?
Những pháp ấy là Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, Tám Thánh Đạo.
Này Cunda, những pháp ấy do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc của muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người.”
Những ai nghĩ rằng mình đang tu theo Đạo Phật, hãy tự hỏi xem mình đã hiểu về các giáo pháp này như thế nào? Chúng hỗ trợ cho tu đạo và hành đạo như thế nào? Họ đã áp dụng chúng trong thực tế đến đâu?
Và những “Như Lai sứ giả” có giảng dạy về các Pháp này không? Có y cứ đúng những lời dạy của Đức Thế Tôn về các Pháp này không, hay lại theo đuôi các ông luận sư Bà-la-môn, luận giải dạy như thế này, chú giải nói như thế kia?
Tỉnh thức trả lời các câu hỏi trên, người Phật tử sẽ biết thật sự Phật Pháp có bị nhuộm màu hay không?
Theo "Tập San Vạn Hạnh"

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Truyền thống chống phá



Với những ai có một chút hiểu biết về Ấn Độ Giáo nói chung, và Bà-la-môn Giáo nói riêng, họ đều biết rõ ăn chay vốn là truyền thống lâu đời của các Bà-la-môn giáo, chứ không phải của Đạo Phật.

Không phải chỉ có thời Đức Phật Thích Ca không thôi, mà từ nhiều đời kiếp trước các Bà-la-môn cũng đã dựa vào ăn chay để chống phá Chư Phật ‘tam tịnh’ quá khứ. Bài kinh “Amagandha” trong tạng Pali chánh gốc là chứng minh điển hình.

Trong bài kinh này, các Bà-la-môn từ nhiều kiếp trước đã biết móc mỉa, cạnh khóe chuyện ăn mặn của Đạo Phật, và ĐỨC PHẬT QUÁ KHỨ KASSAPA đã phải rống tiếng sư tử để dạy cho họ biết thế nào là “ĂN ĐỒ HÔI THỐI, ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI”.

Trong Kinh Luật Pali chánh gốc còn ghi lại hàng trăm dẫn chứng khác về việc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã rống tiếng sư tử minh định rõ về vấn đề này.

Hy vọng các Bà-la-môn chay phát triển đời sau đọc kỹ bài kinh ‘Amagandha’ dưới đây để không còn tiếp tục dựa vào truyền thống ăn chay của mình đả kích chống phá Chánh Tam Bảo, và gây phân hóa chia rẽ Phật giáo thành Phật giáo chay – Phật giáo mặn. Sự phân chia này chỉ bắt đầu phát sinh từ khi các luận sư Bà-la-môn đời sau gia nhập vào Phật giáo. Đây cũng là tội “PHÁ HÒA HỢP TĂNG”, một trong năm đại nghịch tội phải đọa vào địa ngục Vô gián.

KINH HÔI THỐI (Amagandha) (Sn 42)
Tiểu Bộ tập 1, Kinh Tập – Sutta Nipata, Chương 2 – Tiểu Phẩm

Bà-la-môn:

239. Các bậc Thiện chơn chánh,
Ăn hạt giống cây thuốc,
Ăn đậu đũa, đậu rừng,
Ăn lá, ăn rễ cây,
Ăn trái các dây leo,
Nhận được thật đúng pháp.
Vị ấy không nói láo,
Vì các dục thúc đẩy.

240. Ôi ngài Kassapa,
Ai ăn các món ăn,
Do người khác bố thí,
Khéo làm, khéo chưng dọn,
Trong sạch và thù thắng;
Ăn lúa gạo thơm ngon.
Ai ăn uống như vậy
Là ăn thịt hôi thối.

241. Này bà con Phạm thiên,
Chính Ngài tuyên bố rằng:
Ta không ăn đồ thối,
Ðể nuôi sống thân Ta.
Nhưng Ngài ăn món ăn
Bằng lúa gạo thơm ngon,
ĂN THỊT CÁC LOÀI CHIM,
Nấu ăn thật khéo léo
Ta hỏi Kassapa:
Ý nghĩa sự kiện này,
Ngài định nghĩa thế nào,
Là ăn đồ hôi thối?

ÐỨC PHẬT KASSAPA:

242. Sát sanh và hành hình,
Ðả thương và bắt trói,
Trộm cắp và nói láo,
Man trá và lừa đảo,
Giả bộ kẻ học thức,
Ði lại với vợ người,
ÐÂY LÀ ĐỒ ĂN THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
.

243. Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự lòng dục,
Ðam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
.

244. Ai thô bạo, dã man,
Sau lưng nói gièm pha,
Phản bạn không từ bi,
Lại cống cao ngạo mạn,
Tánh không có bố thí,
Không cho ai vật gì,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

245. Phẫn nộ và kiêu mạn,
Cứng đầu và chống đối
Man trá và tật đố,
Nói vô ích, huênh hoang,
Kiêu mạn và quá mạn,
Thân mật với kẻ ác,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

246. Ác giới, nợ không trả,
Làm người điểm chỉ viên,
Làm những nghề dối trá,
Ở đây, kẻ giả vờ,
Ở đây người bần tiện,
Những người làm ác nghiệp,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
.
247. Ở đời đối hữu tình,
Người không biết kiềm chế,
Lấy cướp sở hữu người,
Chú tâm làm hại người,
Ác giới và tàn nhẫn
Ác ngữ, thiếu lễ độ,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

248. Hạng tham ô, thù nghịch,
Tìm cách để giết hại,
Luôn luôn hướng về ác,
Sau chết sanh tối tăm,
Chúng sanh ấy rơi vào,
Ðịa ngục đầu xuống trước.
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

249. Không phải do cá thịt,
Cùng các loại nhịn ăn,
Không phải do lõa thể,
Ðầu trọc và bện tóc,
Không do tro trét mình,
Mặc da thú khô cứng,
Không phải do săn sóc,
Nuôi dưỡng lửa tế tự,
Không do nhiều khổ hạnh,
Ðể được chứng bất tử,
Không bùa chú tế tự,
Các tế đàn thời tiết,
Làm con người trong sạch,
Nếu nghi hoặc chưa đoạn.

250. Do sống hộ trì căn,
Với các căn nhiếp phục,
Vững trú trên Chánh pháp,
Thích chân trực, hiền hòa,
Vượt khỏi các tham ái,
Ðoạn tận mọi khổ đâu,
Bậc trí không nhiễm dính,
Ðiều được thấy, được nghe.

251. Nhiều lần, Thế Tôn thuyết,
Ý nghĩa lời dạy này,
Bậc bác học kệ chú,
Thâm hiểu ý nghĩa ấy.
Bậc ẩn sĩ nói lên,
Với những kệ tuyệt diệu,
Bậc không ăn đồ thối,
Ðộc lập, khó hướng dẫn.

252. Nghe xong những lời dạy,
Lời Thế Tôn khéo nói,
Chấm dứt ăn đồ thối,
Ðoạn tận mọi khổ đau,
Vị ấy đảnh lễ Phật,
Với tâm ý nhún nhường,
Thỉnh cầu được cho pháp,
Xuất gia tại nơi đây.


HT Thích Minh Châu dịch Việt