Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

ĐÁNG SỢ THAY LỜI TIÊN TRI CỦA ĐỨC PHẬT VỀ NHỮNG SỢ HÃI TRONG TƯƠNG LAI ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


Kinh “Sự Sợ Hãi Trong Tương Lai” (4), Tăng Chi tập 2, Chương 5, Phẩm Chiến Sĩ, trang 484:
1. - Có năm sợ hãi về tương lai này, hiện chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận sợ hãi ấy.
2. Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn các y tốt đẹpDo họ tham muốn các y tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ các y nhặt nơi đống rác, họ sẽ từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng, họ sẽ đi đến các làng, thị trấn, kinh đô vua chúa và sống tại các chỗ ấy. Vì nhân y áo, họ sẽ rơi vào những hành vi tầm cầu không thích hợp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ nhất về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lànhDo họ tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lành, họ sẽ từ bỏ nếp sống khất thực, từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ đi vào các làng, thị trấn, kinh đô của vua và sinh sống tại đấy, tìm cầu các món ăn thượng vị, như với đầu lưỡi. Do nhân đồ ăn khất thực, họ sẽ rơi vào nhiều hành động tầm cầu không thích hợp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ hai về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn sàng tọa tốt đẹp. Do họ tham muốn các sàng tọa tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ nếp sống dưới gốc cây, họ sẽ từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ đi vào các làng, thị trấn, kinh đô của vua và sinh sống tại đấy. Vì nhân sàng tọa, họ sẽ rơi vào nhiều hành động tầm cầu không thích hợp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ ba về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sẽ có những Tỷ-kheo trong tương lai sẽ sống liên hệ với Tỷ-kheo-ni, các chánh học nữ, các Sa-di-niKhi sống liên hệ với Tỷ-kheo-ni, chánh học nữ, Sa-di-ni, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là: Họ sẽ không thích thú sống Phạm hạnh, hay họ sẽ rơi vào một trong những tội lỗi ô nhiễm, sẽ từ bỏ học pháp và trở lui lại đời sống thế tục.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ tư về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sẽ có những Tỷ-kheo trong tương lai sống liên hệ với các người có hệ lụy đến khu vườn, với các Sa-diKhi sống liên hệ với các người có hệ lụy đến khu vườn và với các Sa-di, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là họ sẽ sống và tận hưởng các vật liệu cất chứa, và họ sẽ làm các thô tướng đối với đất đai và đối với các sản phẩm trồng trọt.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ năm về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận sự sợ hãi ấy.
Năm sự sợ hãi về tương lai này, này các Tỷ-kheo, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy.
³
Ý kiến Phật tử: Không còn gì rõ ràng hơn, minh triết hơn, xác đáng hơn lời Phật dạy. Không có gì khó khăn để thấy rõ các tiên tri của Đức Thế Tôn hoàn toàn ứng nghiệm trong thời đại ngày nay.
Mọi người chỉ cần tham dự các buổi lễ nghi của Phật giáo hoặc xem qua các hình ảnh nhan nhản trên các trang web cũng đủ thấy các Hòa thượng, Thượng tọa Thích Hoại Pháp ngày nay họ “oai nghi” như thế nào, “bệ vệ” như thế nào trong các bộ trang phục không thua gì vua chúa, quan lại, diễn viên, người mẫu.
Trong khi Bậc Đạo Sư Minh Hạnh Túc công đức vô lượng vô biên như vậy còn không nỡ bước lên tấm vải trắng do Vương Tử Bồ Đề cung thỉnh cúng dường bước chân Ngài, vì Bậc Đạo Sư còn nghĩ đến những chúng sanh nghèo đói khác.
Thậm chí Ngài còn nêu gương “thiểu dục tri túc” mặc y phấn tảo lượm từ nghĩa địa, rồi có lúc Ngài ăn ngày một bữa chỉ có lúa mạch thô vì không nỡ từ bỏ các chúng sanh trong vùng thiếu đói để tiếp tục gieo duyên cứu độ họ.
Thế nhưng các người con của Ngài ngày nay, giới hạnh chưa tới đâu, tu tập chưa đạt được gì, ấy thế mà các vị cứ như các vương tôn công tử, với những áo mão cân đai, ung dung trong các tự viện không thua gì hoàng cung bảo điện.
Các vị thoải mái ăn uống phi thời đầy đủ, đã thế còn đua nhau phòng lạnh, xe hơi, ca múa vui chơi du lịch… trong khi xung quanh mình còn biết bao chúng sanh đang đói rách, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc.
Đã vậy khi các vị đăng đàn thuyết pháp, hoặc viết sách giảng đạo, ai nấy đều lên giọng giảng dạy mọi người phải biết sống từ bi nhân ái, phải có lòng yêu quý chúng sanh (?!) Hình ảnh này là gì nếu không phải là “đạo đức giả”?
Đạo Phật không chủ trương khổ hạnh ép xác, nhưng cũng không cho phép người tu sĩ thụ hưởng vật dục như người phàm tục, nhất là khi chung quanh mình còn biết bao người đói rách
Trong kinh tạng, vì là lời tiên tri cho nên các sự kiện dùng thì tương lai. Chỉ cần thay đổi từ “sẽ” bằng từ “đã”, mọi người sẽ thấy rõ ngay lời Đấng Chánh Biến Tri từ hơn hai ngàn sáu trăm năm qua đã linh ứng như thế nào. Xin mời mọi người đọc bản “tin tức” mang đầy tính thời sự sau đây sẽ rõ:
“Các Tỷ-kheo hiện nay tham muốn các y tốt đẹp. Do họ tham muốn các y tốt đẹp, họ đã từ bỏ các y nhặt nơi đống rác, họ đã từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ đã đi đến các làng, thị trấn, kinh đô vua chúa và sống tại các chỗ ấy. Vì nhân y áo, họ đã rơi vào những hành vi tầm cầu không thích hợp”.
“Những Tỷ-kheo hiện nay tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lành. Do họ tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lành, họ đã từ bỏ nếp sống khất thực, đã từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ đã đi vào các làng, thị trấn, kinh đô của vua và sinh sống tại đấy, tìm cầu các món ăn thượng vị, như với đầu lưỡi. Do nhân đồ ăn khất thực, họ đã rơi vào nhiều hành động tầm cầu không thích hợp”.
Đúng vậy, tất cả sự kiện của “bản tin thời sự” đang diễn ra như thực!
Còn về sự liên hệ của các Tăng sĩ thời nay với các Tỳ-kheo-ni, với nữ nhân thì ôi thôi lại càng sợ hãi hơn nữa. Chỉ cần để ý quán sát một chút cũng đủ thấy nhiều vị ngang nhiên tiếp nữ nhân trong phòng riêng kín đáo lúc vắng người.
Hoặc một nam một nữ trò chuyện vô tư với nhau chỗ khuất vắng khi trời tối; hoặc rủ nhau tự do thăm thú du ngoạn riêng, tắm biển, xem phim, xem văn nghệ, múa hát, đóng kịch… Thậm chí họ còn ngang nhiên thực hành ‘thiền ôm, thiền ấp’ trước mắt mọi người nữa chứ! Thật không sao tưởng nổi!
Bên cạnh đó, có không ít vị tu sĩ còn vênh váo tự hào là nhà kinh doanh Phật giáo, là giám đốc công ty buôn bán Phật giáo, chủ trại vườn, đốc công, giám xưởng… Các vị hoàn toàn giống như người đời, chỉ khác ở hình thức đầu trọc, y áo vàng và danh xưng “Thích”… đủ thứ mà thôi.
Có vị nghĩ rằng mình cũng đang thực hiện “Phật sự”, kiếm tiền lo cho Giáo hội, cho Tăng chúng mà quên rằng nó là chức năng phước báu của người cư sĩ, không phải của người tu sĩ; lại càng không phải là lý tưởng mục đích của người xuất gia chân chánh.
Chẳng thế mà Đức Thế Tôn đã phải nghiêm khắc khuyến cáo “Năm sự sợ hãi về tương lai này, này các Tỷ-kheo, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy”.
Vì sao phải sợ hãi? Vì những biểu hiện sa đọa nêu trên không những kéo lui người tu sĩ trở về với tham dục, mà còn kéo họ xuống đọa xứ, địa ngục do nếp sống phi pháp, phi luật. Không những thế, những hình ảnh tha hóa của người tu sĩ sẽ khiến những người chưa tin không có đức tin, những người đã tin sẽ đánh mất tin tưởng. Chánh Pháp vì thế đi đến hỗn loạn và biến mất.
Mỗi người con Phật phải tinh tấn đoạn tận các sợ hãi ấy; nếu không, họ phải chấp nhận sự thối lui đọa xứ. Mỗi người phải tự ý thức và xác lập nghiệp quả cho chính mình!
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

TÀ GIỚI BỒ TÁT NÊN TOÀN TÀ NGỮ TÀ LÝ TÀ LUẬN


Nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 43
“43.- GIỚI CỐ MỐNG TÂM PHẠM GIỚI 66
Nếu Phật tử, do đức tin mà xuất gia, thọ chánh giới của Phật, lại cố mống tâmhủy phạm giới pháp, thời không đươc thọ lãnh đồ cúng dường của tất cả đàn việt, cũng không được đi trên đất của tất cả quốc dânNăm nghìn Đại quỷ luôn đứng án trước mặt người đó mà gọi là “Gã bợm giặc”. Nếu khi đi vào trong phòng nhà thành ấp, các quỷ thường theo chà quét dấu chơn của người ấy. Tất cả người đời đều mắng người ấy là kẻ giặc trong Phật pháp. Hết thảy chúng sanh đều không muốn nhìn ngó người ấy. Người phạm giới, khác nào loài súc sanh, cây cỏ. Nếu cố phá hủy giới pháp của Phật, Phật tử này phạm “khinh cấu tội”.”
Chú thích 66 (trang 37 sách Bồ-tát giới):  “Người thọ giới mà có tâm hộ trì thời từ người cho đến thiên thần đều kính trọng, còn mống tâm phá giới thời tất cả đều khinh khi. Đây là từ lúc mống tâm phá giới mà kết tội khinh, vì người đã thọ giới phải có bổn phận hộ trì, mống tâm muốn phá là thiếu bổn phận nên thành lỗi. Nếu đã phá giới thời tùy giới mà luận tội.
PHÂN TÍCH PHẢN BIỆN
Bồ-tát giới là tà giới cho nên đã phô bày hết từ các phi lý này đến các phi lý khác.
Vì sao kẻ mống tâm phạm giới lại ‘không được đi trên đất của tất cả quốc dân’?Điều này có quá vô lý và không có thực tế không? Trên đời có biết bao ‘giả sư, giả ni’, phá giới phá hạnh; Bồ-tát giới có uy lực cấm họ ‘không đươc thọ lãnh đồ cúng dường của tất cả đàn việt’ không?
 ‘Đại quỷ’ là vô hình, không phải ‘năm nghìn’ mà là ‘năm nghìn tỷ tỷ Đại quỷ có đứng trước mặt ‘Gã bợm giặc’ cũng chẳng ai chứng minh được. Một ‘Gã bợm giặc’ chánh tông có thể thách thức bất kỳ một Hòa Thượng, A-xà-lê nào chỉ ra được một đại quỷ đứng trước mặt họ, trình ra cho mọi người thấy có quỷ ma nào theo chà quét dấu chơn của họ. Không những thế họ còn nói phía sau các Hoà thượng, A-xà-lê, Bồ-tát Đại Thừa đều có năm tỷ Đại quỷ chờ kéo các vị xuống địa ngục vì tà kiến. Những ai còn bênh Bồ-tát giới nói sao? Chẳng lẽ ngồi đó cãi nhau?
Trong Pháp Cú Nguyên Thuỷ, Đức Phật có dạy  "Xưa, vị lai, và nay. Ðâu có sự kiện này, Người hoàn toàn bị chê, Người trọn vẹn được khen." (kệ 228). Trong khi đó Bồ-tát giới lại phán bừa: Tất cả người đời đều mắng người ấy là kẻ giặc trong Phật pháp. Hết thảy chúng sanh đều không muốn nhìn ngó người ấy’. Chỉ cần xét hai lời trên cũng thấy rõ đâu là chánh, đâu là tà; đâu là thực, đâu là ngụy.
Vả lại giới có giới trọng, giới khinh, giới nặng, giới nhẹ; kiểu mạt sát tất cả ‘người phạm giới, khác nào loài súc sanh, cây cỏ’ xem ra thô lỗ cục cằn quá, hoàn toàn không thích đáng với hội chúng trí tuệ. Một người khôn ngoan chỉ cần so sánh bấy nhiêu cũng đủ biết đâu là điều thực tế xác đáng, đâu là sự hồ đồ, vô lý, ngụy tạo.
Chính vì Bồ-tát giới hồ đồ, vô lý, ngụy tạo như vậy; cho nên mới phải có thêm chú thích 66 để vá víu. Chỉ có điều càng vá víu càng rách, vì mọi thứ đều là vải nát. Chú thích 66 theo đuôi các tổ sư gián điệp phán bừa ‘tất cả đều khinh khi’ người phá giới là minh chứng cho sự hồ đồ, vô lý giống như phần luật định. Vì sao? Vì tuỳ theo giới các chúng sanh đi với nhau. Kẻ uống rượu thì ca ngợi kẻ uống rượu giỏi hơn, kể trộm cắp nể phục kẻ trộm cắp siêu hơn... chứ không phải tất cả đều khinh khi kẻ phá giới.
Lại nữa, ‘mống tâm’ có nghĩa là mới chỉ khởi tâm, khởi ý thôi. Khởi tâm nhưng chưa thực hiện vẫn chưa thành tội được, ngay cho dù đó là mống tâm sát sanh, trộm cướp. Vả lại, ai có Tha tâm thông để biết kẻ khác ‘lúc mống tâm phá giới mà kết tội khinh’ đây? Làm sao chứng minh có mống tâm hay không mống tâm? Trong hội chúng có kẻ xấu thích vu cáo kẻ khác mống tâm thì sao?
Cả hai Bồ-tát giới và chú thích đều tà vạy mới bộc lộ nhiều phi lý trái ngang như vậy.
TẬP SAN LUẬT HỌC

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

ĐỨC PHẬT THÍCH CA TIÊN TRI VỀ CHÁNH KINH BỊ NGỤY TẠO PHÁ HOẠI BỞI TÀ SƯ VÀ NGỤY KINH


Kinh Cái Chốt Trống, Tương Ưng 1, phẩm XX, (Tạp 47.18, Cổ, Ðại 2, 315b) (S.ii,266)
Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, dân chúng Dasārahā có một cái trống tên là Anaka.
Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dasārahā đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian, này các Tỷ-kheo, cả cái thùng ván của trống Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ tập lại.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo sẽ thành trong tương lai.Những bài kinh nào do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, họ sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ không lóng tai; họ sẽ không an trú chánh tri tâm, và họ sẽ không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải thấu đáo.
Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, họ sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không sẽ đi đến tiêu diệt.”
Tiên Tri 1: Trích kinh “Phân Biệt Cúng Dường” (số 142, Trung Bộ 3)
“… Nhưng này Ānanda, trong thời gian tương lai sẽ có những hạng chuyển tánh (gotrabhuno), với những áo cà-sa vàng xung quanh cổ, theo ác giới, ác pháp, và cuộc bố thí đối với chúng Tăng theo ác giới.
Nhưng này Ānanda, khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ānanda, Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.”
³
Ý kiến Chánh Tư Duy: Theo trên, “hạng chuyển tánh” chính là những hạng sa-môn sau này tâm tánh chuyển sang tánh tà kiến, tánh tà pháp, tánh tà luật, tánh tà đạo. Vì sao? Vì họ đã không còn nương theo đúng Chánh Pháp, Chánh Luật để tu tập. Trái lại, những hạng này tin theo các tà kinh, tà luận “do các thi sĩ làm, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển”.
Ví dụ như các câu thơ hoa mỹ thế này: ‘Nếu mà xưa kia / không có trí tuệ/ nên tạo năm tội / địa ngục vô gián / nhưng nếu ngày nay / tụng đại nguyện vương / của đức Phổ hiền / thì một sát-na / tiêu diệt tức thì năm tội như vậy’. Thế đấy, chỉ cần tụng đại nguyện của Phổ hiền là tức khắc diệt được năm đại tội vô gián: giết mẹ, giết cha, giết A La Hán, làm Phật chảy máu, phá hoà hợp Tăng! Năm đại nghịch tội còn xóa được dễ dàng, huống hồ các tội ác khác. Văn kinh kiểu này nếu không phải ngụy kinh tà giáo thì còn là gì nữa?
Nhưng vì sao các tà kinh - tà luật mới “thuộc ngoại điển” lại dễ dàng được chấp nhận để rồi chúng trở thành những “cái chốt trống” mới che lấp cả “Trống” Pháp-Luật gốc? Đó là vì những tà kinh - tà luật “chuyển tánh” này được các tà sư ngoại học gián điệp xâm nhập vào trong Phật giáo, đội lốt thành chính các “đệ tử thuyết giảng”, cho nên những người con Phật ngây thơ đã mất cảnh giác, cả tin chúng ngay liền, không nghi ngờ gì cả.
Kế sách gián điệp luôn là một thủ đoạn nguy hiểm, và chỉ có như vậy những tà sư gián điệp ngoại học mới có thể khiến những người con Phật dễ dàng tin theo họ, quay lưng cả với cái Kinh-Luật gốc để rồi “chuyển tánh” rơi vào vực thẳm của tà đạo. 
Để chứng minh cho nhận định trên, hãy lấy ngay đoạn chánh kinh Phân Biệt Cúng Dường để minh chứng. Trong trích đoạn kinh nêu trên Đức Phật đã dạy rõ: “Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng”.
Thế nhưng trong Chương 11, “Kinh 42 Chương” sau này; các tà sư gián điệp đã cải biên lời Phật một cách nham hiểm bằng một “cái chốt trống” mới, điển hình như đoạn nguyên văn ngược ngạo này:  “Chomột ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn” (???)
Trong khi Đức Phật dạy dù bất cứ phương tiện gì bố thí cúng dường cho cá nhân cũng không bằng cho “Tăng chúng”. Vì sao? Vì cá nhân nằm trong tập thể. Thế nhưng “kinh chuyển tánh” lại cải biên trái ngược một cách rất thâm độc, cho một vị “Bốn Vô” ăn còn hơn cả cho một “Phật chúng” với “một ngàn ức vị Phật ba đời” ăn???
Thật quá kinh hoàng, “kinh chuyển tánh” đã biến thành “kinh khuyển tánh” thực rồi. Nói rõ hơn “kinh chuyển tánh” đã phỉ báng Chư Phật theo kiểu “khuyển tánh” mới đúng!
Không tin ư? Xin hỏi những người tin “kinh chuyển tánh”: một “vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng” là ai? Vị này đã tu và dạy thế nào để chứng minh công đức hơn cả “một ngàn ức vị Phật ba đời”? Các người có cứng họng không nếu một Ác ma theo sau các tà sư gián điệp rêu rao móc họng: một “vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng” trong kinh chuyển tánh chính là “vị”… vô tâm đang chạy rông ngoài đường vô tư sủa bậy? Có “vị” nào trong các “vị” ấy có niệm, có trụ, có tu, có chứng?
Các người đã thấy ra một cánh cửa địa ngục mà các tà nhân gián điệp đã mở sẵn trong các bản “kinh chuyển tánh” của họ chưa? Vẫn chưa thấy ư? Thì đây một điển hình khác nữa.
Trong Chánh Kinh Nguyên Thủy gốc, Đức Thế Tôn có dạy nhiều bài kinh liên hệ đến khái niệm “Không” rất “thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian” chẳng hạn như Không Tánh, Nội Không, Ngoại Không, Nội Ngoại Không, Không Định, Không Tướng, Không Vô Biên Xứ Định v.v… Trong số đó phải kể đến hai bài kinh cực kỳ quan trọng là “Tiểu Không” và “Đại Không” (số 121 và 122, Trung Bộ 3). Nội dung phân tích hai bài Kinh này rất rộng, nhiều khía cạnh. Ở đây chỉ có thể tóm tắt một cách rất khái lược để dẫn chứng mà thôi.
Theo đó trong bài kinh “Tiểu Không”, đại ý Đức Phật dạy về trạng thái tâm không còn tánh tham, không còn tánh sân, không còn tánh si, không còn tánh phiền não của các hạ phần kiết sử; kết quả này do nhờ tu tập Bốn Niệm Xứ viên mãn. Còn “Đại Không” là trạng thái rộng hơn khi tâm không còn tất cả nội ngoại kiết sử và các triền cái, kết quả này do tu tập Bảy Giác Chi viên mãn. Vị Tỳ-kheo theo đây tu tập sẽ đi đến an vui giải thoát ngay hiện tại.
Thế nhưng ngày nay những bài kinh như “Tiểu Không” hoặc “Đại Không” do chính Như Lai thuyết, thực sự thâm sâu, xuất thế gian không còn được lóng tai, không còn được nghiên cứu thấu đáo. Trái lại nhiều bài “kinh” do các luận sư Bà-la-môn gián điệp đóng vai “đệ tử thuyết giảng” lại được đua nhau tụng đọc, học thuộc lòng một cách rất xấc xược và trái ngược. Ví dụ như đoạn “kinh chuyển tánh” này: Này người con Xá-lị, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc… cho nên các pháp không dơ, không sạch, không chứng, không đắc, không cả Bốn Thánh Đế Khổ - Tập - Diệt - Đạo; nhưng lại  cái Ba-la-mật mà đến ba đời chư Bụt còn phải nương theo (sic)
Rõ ràng “Như vậy, này các Tỷ-kheo, các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, sẽ đi đến tiêu diệt”. Kinh văn gốc bị xem thường, quên lãng, không còn được nghiên cứu thấu đáo thì xem như đã bị tiêu diệt mất rồi. Trái lại chỉ còn các kinh văn thuộc ngoại điển theo kiểu Bát Nhã Ba-la-mật nêu trên, trong đó nó đã lập lờ cải biên từ “Không Tánh” của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trở thành “Tánh Không” của các luận sư gốc Bà-la-môn gián điệp, để rồi cuối cùng phủ nhận tất cả Chánh Pháp của Đức Phật Thích Ca.
Một cái chốt trống… không thôi đã tai hại như vậy rồi, huống hồ còn biết bao những cái ‘chốt trống không chuyển tánh’ khác nữa!
Trên đây mới chỉ nêu vài ví dụ điển hình để dẫn chứng, trong các kinh-luật-luận ngụy tạo khác còn rất nhiều những “chuyển tánh” ác hiểm như vậy! Và khốn thay chúng đã an nhiên tồn tại và được di truyền phổ biến suốt hơn hai ngàn năm qua, không một ai cảnh giác, không một lời cảnh báo. Vì sao như vậy?
Vì với các hạng sa-môn chuyển tánh, họ không thể phát hiện được các tổ sư gián điệp đóng vai các “đệ tử thuyết giảng” các kinh văn ngụy tạo, cho nên họ dễ dàng chấp nhận và biến mình “theo ác giới, ác pháp” mà không biết. Chính vì thế “khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo” đúng như với những gì Đức Phật đã tiên đoán.
Và một khi mọi người ngây thơ nhắm mắt tin cuồng theo các “tà sư chuyển tánh” cùng các kinh văn “thuộc ngoại điển” của họ, khi ấy các đệ tử Phật cũng không thể nhận ra những “tánh chuyển” tà vạy của các tà nhân và của chính mình, để rồi tất cả phải rơi vào địa ngục vì tánh ác tà kiến!
Đó là cái giá phải trả vì đã “không lóng tai; không an trú chánh tri tâm”trước những lời cảnh báo tiên tri của Đức Phật!
PHẬT HỌC CAO CẤP

ĐỨC PHẬT TIÊN TRI VỀ THỜI "TƯỢNG PHÁP" VÀ THỰC TẾ ĐAU LÒNG

Tiên Tri 3: Kinh Tượng Pháp (Tạp 32.2 Pháp Giảm Diệt, Ðại 2, 226b (Biệt Tạp 6.15, Ðại 2, 419b) (S.ii,223)
1) Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.
2) Rồi Tôn giả Mahā Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahā Kassapa bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thuở trước, học giới có ít hơn nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí nhiều hơn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ngày nay học giới có nhiều hơn, nhưng các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí ít hơn?.
4) -- Sự việc xảy ra như vậy, này Kassapa, trong thời các chúng sanh suy giảm, trong thời Diệu Pháp biến mất, thời nhiều hơn là các học giới, ít hơn là các Tỷ-kheo chứng đắc chánh trí.
5) Này Kassapa, Diệu Pháp không biến mất cho đến khi nào Tượng pháp không hiện ra ở đời. Và Kassapa khi nào Tượng pháp hiện ra ở đời, thời Diệu Pháp biến mất.
6) Ví như, này Kassapa, vàng (thật) không biến mất khi nào vàng giả chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào vàng giả hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất.
7) Cũng vậy, này Kassapa, Diệu Pháp không biến mất, khi nào Tượng pháp chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào Tượng pháp hiện ra ở đời, thời Diệu Pháp biến mất.
8-11) Này Kassapa, địa giới không làm Diệu Pháp biến mất, thủy giới... hỏa giới... phong giới không làm Diệu Pháp biến mất.
12) Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm Diệu Pháp biến mất.
13) Ví như, này Kassapa, chiếc thuyền bị chìm vì chở quá nặng. Không phải vì vậy, này Kassapa, Diệu Pháp bị biến mất.
14) Này Kassapa, có năm thối pháp khiến cho Diệu Pháp bị hỗn loạn và biến mất. Thế nào là năm?
15) Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sưsống không tôn kính, không tùy thuận Chánh phápsống không tôn kính, không tùy thuận chúng Tăngsống không tôn kính, không tùy thuận học giớisống không tôn kính, không tùy thuận đối với Thiền định.
Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của Diệu Pháp.
16) Và có năm pháp, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của Diệu Pháp. Thế nào là năm?
17) Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống kính trọng, tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống kính trọng, tùy thuận Chánh pháp, sống kính trọng, tùy thuận chúng Tăng, sống kính trọng, tùy thuận học giới, sống kính trọng tùy thuận Thiền định.
18) Chính năm pháp này, này Kassapa, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của Diệu Pháp.<Hết trích>
³
Ý kiến Phật tử: “Tượng pháp” là thời kỳ người ta đua nhau dựng đủ mọi thứ tượng, thờ đủ mọi loại tượng, thực hiện các lễ nghi tôn giáo mê tín: tắm tượng, điểm nhãn tượng, đắp y đắt tiền cho tượng… mà quên đi Diệu Pháp, không còn thực hành đúng Chánh Pháp, Chánh Đạo.
Nhiều người than thở hiện nay là “thời kỳ Pháp mạt”. Không đúng! Chánh Pháp không bao giờ mạt, chỉ có con người mạt chứ Chánh Pháp không bao giờ mạt. Vì sao? Vì Chánh Pháp là Chân lý, là diệu lý cứu khổ cho mọi người, qua mọi thời đại và ở khắp mọi nơi. Do vậy, chỉ khi những con người mạt xuất hiện, lúc ấy Diệu Pháp mới bị quay lưng quên lãng và “biến mất”.
Quả thật, “khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm Diệu Pháp biến mất”Vì ngu si mạt hạng nên mới dựng ngụy diệt chân, mới tạo tà phá chánh; và cũng vì mạt hạng si ngu nên mới nghe sao tin vậy, không biết phân biệt đúng sai, thật giả, chánh tà. Hai thứ ngu si mạt hạng này có mặt, Diệu Pháp làm sao còn được!
Tuy vậy Diệu Pháp vẫn luôn luôn tồn tại với những ai biết sống kính trọng, tùy thuận duy nhất một bậc Ðạo Sư, là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; 
biết sống kính trọng, tùy thuận duy nhất Chánh pháp trong Thánh kinh Nikāya; 
biết sống kính trọng, tùy thuận chúng Tăng thanh tịnh; 
biết sống kính trọng, tùy thuận học giới Pātimokkha
biết sống kính trọng tùy thuận Thiền định, tức Chánh Định Bốn Thiền - Bốn Thánh Định. 
Bởi “Chính năm pháp này, đưa đến sự an trú, bền vững, không biến mất của Diệu Pháp”. Do vậy chỉ có con người mạt, chứ Chánh Pháp không bao giờ mạt!
Học Phật Giải Thoát

BI KỊCH 2000 NĂM


Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY CÓ NÊN TIN TƯỞNG MỘT CHIỀU VÀO LUẬN SƯ BÀ LA MÔN PHẬT ÂM BUDDHAGHOSA SỐNG SAU PHẬT CẢ NGÀN NĂM???


Trong cuốn sách “Chú giải kinh Pháp cú tập 1” của tác giả Phật Âm Buddhaghosa, do Tỳ-kheo Pháp Minh dịch Việt, Thành hội Phật Giáo TPHCM xuất bản năm 1997, nơi trang 10 có đoạn như sau: 
“Nhưng ông Anathapindika vừa an tọa thì Đức Bổn Sư lại nghĩ rằng: Trưởng giả này cứ lo gìn giữ cho Ta, ở chỗ mà Ta chẳng cần chi phải gìn giữ”. Trải qua bốn A tăng kỳ (Asankheyya) và một trăm ngàn đại kiếp (mahakappa) của quả địa cầu, Ta đã từng cắt thủ cấp khôi ngô tuấn tú của chính mình, Ta đã từng móc mắt Ta, Ta đã từng rứt thịt nơi quả tim Ta, Ta đã từng đoạn ly vợ con yêu dấu nhất đời mà Ta quý trọng chẳng khác nào mạng sống của tự thân Ta, nhất nguyện để hoàn thành hạnh Parami (Ba La Mật) ngõ hầu để có thể tuyên dương chánh pháp, phổ độ quần sanh”.
Xin hỏi những ai tin tưởng một chiều vào “Thánh tăng” Phật Âm - Buddhaghosa:
1/ Phật Âm vốn là một Bà-la-môn sống sau Phật hàng ngàn năm, vậy dựa vào đâu lại “chú giải” được Đức Bổn Sư “nghĩ rằng” thế này thế kia? Ông ta căn cứ vào đoạn chánh kinh nào để viết câu “Phật tự nghĩ” nêu trên? Chú giải Thánh Kinh và tiểu thuyết có lẫn lộn được không?
2/ Tinh tấn Ba La Mật của Phật Âm khác biệt như thế nào với Chánh Tinh Tấn - Tứ Chánh Cần: ngăn ác, diệt ác, sanh thiện, tăng trưởng thiện của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni?
3/ Trong chánh kinh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy như sau:
-- “Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai.. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh tư lường như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh tư lường tự làm hại mình, tư lường làm hại người, tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh tư lường như người bất chánh”(Tiểu Kinh Mãn Nguyệt, Trung Bộ 3).
-- “Trong một pháp luật được vụng thuyết, này các Tỷ-kheo, người tinh cần tinh tấn sống đau khổ. Vì cớ sao? Vì pháp được vụng thuyết...Trong một pháp luật được khéo thuyết, này các Tỷ-kheo, ai sống tinh cần tinh tấn, người ấy sống an lạc. Vì cớ sao? Vì pháp được khéo thuyết”? (Tăng Chi I, Chương 1, trang 73)                      
-- “Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ” (Kinh Tăng Chi II, tr. 159)
-- "Chư Hiền Nigantha, các Ông nghĩ thế nào? Khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, trong khi ấy có phải các Ông thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ? Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, trong khi ấy có phải các Ông không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ?” (Kinh Devadaha, Trung Bộ 3, số 101).
-- “Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt” (Tương Ưng tập 5, kinh số 440).
Câu hỏi:
a) Lời dạy trong chánh kinh và điều “nghĩ rằng” trong chú giải của Phật Âm mâu thuẫn như thế nào?
b) Tinh tấn Ba La Mật trong chú giải của Phật Âm có khác gì với sự tinh tấn của phái Nigantha?
c) Sự liều thân vì đạo của “Phật chú giải” có hơn gì những kẻ khủng bố cuồng tín tự sát cho lý tưởng của mình?
d) Những chú giải của Phật Âm có lợi và hại cho Phật pháp và người Phật tử như thế nào? Phải chăng khi Phật Âm viết câu chuyện trên, ông ta vẫn còn “khét tiếng” và khéo léo trong việc chống các phái ly khai khỏi đạo Bà-la-môn trong đó có đạo Phật?
e) Chẳng lẽ chỉ có một số Bà-la-môn trong thời Đức Phật mới muốn phá hoại đạo Phật thôi sao? Còn sau đó và hiện nay không có một ai muốn phá hoại Phật Pháp nữa?
f) Các luận sư gián điệp chỉ dám chui vào Bắc Tông để phá hoại, còn với Nam Tông họ sẽ sợ hãi không dám nằm vùng chăng?
Tất nhiên những dẫn chứng trên đây chỉ là một trong khối luận giải đầy ắp của Phật Âm. Xin dành câu trả lời và những nghiên cứu tiếp theo cho những người khách quan và sáng suốt.
PHẬT HỌC CHÁNH TÔNG

CÁI KẾT ĐẮNG LÒNG DÀNH CHO TĂNG NI ĐẠI THỪA


Như trong bài kinh “Giới Phân Biệt” (số 140, Trung Bộ 3) còn ghi lại, Tôn giả Pukkusati tuy đã xuất gia quy y với Thế Tôn nhưng chưa có duyên may gặp được Đức Phật. 
Do vậy khi Tôn giả được gặp chính Đức Thế Tôn tại nhà người thợ gốm Bhaggava, Tôn giả đã không nhận ra.
Nhưng sau khi nghe Đức Thế Tôn giảng dạy, Tôn giả Pukkusati đã nhận biết ngay bậc Đạo Sư đáng tôn kính đang ở trước mặt mình. Dù trước đó, Tôn giả Pukkusati vẫn lịch sự và nhã nhặn, thế nhưng sau khi biết Ngài là Đức Thế Tôn, Tôn giả Pukkusati đã phải sám hối vì sự “ngu đần, si mê và không khéo léo” vì đã “xưng hô với Thế Tôn với danh từ Hiền giả”.
Nguyên văn đoạn chánh kinh ghi lời của Tôn giả Pukusati và Đức Phật:
-- Con đã rơi vào một lỗi lầm, bạch Thế Tôn, vì rằng, ngu đần, si mê và không khéo léo như con, đã nghĩ rằng con có thể xưng hô với Thế Tôn với danh từ Hiền giả. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm ấy là một lỗi lầm để con có thể ngăn ngừa trong tương lai.
-- Này Tỷ-kheo, thật vậy, Ông đã rơi vào một lỗi lầm, vì rằng ngu đần, si mê và không khéo léo vì Ông đã nghĩ rằng Ông có thể xưng hô với Ta với danh từ Hiền giả. Nhưng này Tỷ-kheo, nếu Ông thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, và như Pháp phát lộ, thời Ta chấp nhận lỗi lầm ấy cho Ông. Vì rằng, này Tỷ-kheo, đây là sự tăng ích trong giới luật của bậc Thánh, khi nào một ai thấy lỗi lầm là một lỗi lầm, như Pháp phát lộ, để ngăn ngừa trong tương lai.”
Ý kiến con Phật:
Thế đấy, Tôn giả Pukkusati vì chưa từng diện kiến Đức Thế Tôn nên khi gặp mặt đã “xưng hô với Thế Tôn với danh từ Hiền giả”, dù vậy đây vẫn là “một lỗi lầm, ngu đần, si mê và không khéo léo”.
Những ai thực sự hiểu ý nghĩa hy hữu “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”, và hiểu ý nghĩa cứu khổ vô giá của Pháp Bảo; cũng đều thấy đó là một lỗi lầm, dù là vô ý.
Ấy thế mà sau này nhiều kẻ tuy mang danh con Phật, nghĩ rằng đang tu theo Pháp Phật, thế nhưng nghe theo các tổ sư gốc Bà-la-môn gián điệp, tin theo ‘giáo ngoại biệt truyền’ để rồi dám xúc phạm cùng cực Đấng Thiên Nhân Sư khi vô phân biệt Bụt với cục cứt khô, khi trả lời ngu xuẩn ‘con chó có Bụt tánh’, khi tà kiến tin rằng mọi chúng sanh (súc sanh, ma quỷ) cũng có ‘Phật tánh’, đều sẽ thành Phật v.v...
Đây không chỉ là lỗi lầm mà còn là tội ác! Tội ác phỉ báng Phật Bảo, tội ác nêu gương xấu cho những kẻ tin theo. Dưới đây là lời Phật dạy đối với kẻ “mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh” sẽ gặp một trong mười một tai họa.
Kinh “Tai Họa”, Tăng Chi tập 4, Chương 11, I. Phẩm Y Chỉ

“Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh là những vị đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ hội rằng người ấy không gặp một trong mười một tai họa.

Thế nào là mười một?

1. Không chứng điều chưa chứng, 2. đã chứng được thời mất đi, 3. Diệu pháp không được tỏ rõ, 4. hay là tự kiêu trong Diệu pháp, 5. hay là không hoan hỷ sống Phạm hạnh, 6. hay phạm một tội ô uế, 7. hay từ bỏ Phạm hạnh và hoàn tục, 8. hay là thọ bệnh nặng, 9. hay là đạt đến điên cuồng loạn tâm, 10. hay là bất tỉnh khi mệnh chung, 11. sau khi thân hoại mạng chung rơi vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh là những đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ hội rằng người ấy không gặp một trong mười một tai họa này.” <Hết trích>
Mong rằng những ai còn ngu đần, si mê, không khéo léo hoặc ác khẩu cùng cực vì nghe theo ác ma quay lại phỉ báng Đức Thế Tôn, hãy mau mau tỉnh ngộ, sám hối tội lỗi, may ra còn kịp cứu lấy mình.
CHÁNH PHÁP CỨU KHỔ

QUẢ BÁO PHỈ BÁNG


Trong Đại Kinh Sư Tử Hống, số 12, Trung Bộ 1, có đoạn mở đầu như sau:
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở phía ngoài thành, trong một khu rừng phía Tây.
Lúc bấy giờ, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong Hội chúng ở Vesali: "Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau".
Sau đó Đức Thế Tôn đã rống tiếng sư tử về những Như Lai Lực và các pháp thượng nhân thù thắng nơi Đức Thế Tôn.
Ngài dạy tiếp “Này Sāriputta, nếu ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy mà còn nói: "Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau". Này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy; không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.” (Sđd)
Thế đấy, Sunakkhatta và những ai mắc phải tà kiến như trên còn bị rơi vào địa ngục, huống hồ những kẻ phỉ báng Thế Tôn! 
Khốn thay nhiều kẻ đời sau vì nhắm mắt tin theo các Bà-la-môn gián điệp, tin theo các tam tạng ngụy tạo của họ để rồi trở thành những kẻ nghịch tử vô ý thức phỉ báng Đức Thế Tôn.
Hẳn nhiều người cũng biết trong Thiền Tông có chuyện tổ sư Lâm Tế khi được hỏi “Thế nào là Phật?”, đã thẳng thừng trả lời vô phân biệt “Cục cứt khô”. 
Người khác hỏi Thiền sư Triệu Châu “con chó có Phật tánh không?”. Thiền sư Triệu Châu lúc trả lời “có”, khi khác lại bảo “không”. Vì sao? Vì Triệu Châu mắc phải cái lưỡi câu hai móc ‘chúng sanh đồng Phật tánh’ trong kinh Pháp Hoa, và tinh thần vô phân biệt “ta, người, chúng sanh, thọ, giả” của kinh Kim Cang.
Những sự phỉ báng này lưu truyền qua hàng ngàn năm, gieo rắc tà kiến xúc phạm Thánh Nhân cho biết bao nhiêu người. Thử hỏi nghiệp báo oan khiên cõi dữ địa ngục của những kẻ tin theo nhiều biết là nhường nào.
Thích Chánh Đạo

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

BỒ TÁT GIỚI MẮNG CHỬI MỌI NGƯỜI KHÔNG THỌ GIỚI BỒ TÁT LÀ TÀ ÁC, LÀ SÚC SANH, NHƯ CÂY ĐÁ, KHÔNG CÓ TÂM THỨC, BỌN TÀ KIẾN...



Thật vậy, ai hồ nghi hãy đọc nguyên văn giới khinh thứ 42 của Bồ-tát giới sẽ rõ
Nguyên văn “42.- GIỚI VÌ NGƯỜI ÁC GIẢNG GIỚI 65
Nếu Phật tử, không được vì tài lợi mà đem đại giới của chư Phật đây nói với người chưa thọ giới Bồ tát, hoặc với hàng ngoại đạo, những người tà kiến, … Trừ Quốc vương, ngoài ra không được nói với tất cả hạng người ấy. Những hạng người ấy chẳng thọ giới của Phật, gọi là SÚC SANH, đời đời sanh ra không gặp được Tam Bảo, NHƯ CÂY ĐÁ, KHÔNG CÓ TÂM THỨC; GỌI LÀ NGOẠI ĐẠO, BỌN TÀ KIẾN, KHÔNG KHÁC CÂY CỐI. Với những hạng người TÀ ÁC ấy, nếu Phật tử giảng nói giới pháp của chư Phật, thời phạm “khinh cấu tội”.”
Chú thích 65 (trang 37 sách Bồ-tát giới): “Trừ Quốc vương, vì Phật đem chánh pháp phó chúc cho Quốc vương hộ trì. Nếu đem giới này giảng cho người chưa thọ thời có hai điều bất lợi: (a) hạng căn khí tiểu thừa và ngoại đạo, người ác sẽ sanh niệm bất kính; (b) về sau lúc thọ giới tâm trân trọng kém. Trong điều giới 39, bảo phải giảng thuyết kinh luật ĐẠI THỪA cho tất cả chúng sanh, bất luận lúc nào và chỗ nào (luật ĐẠI THỪA là Bồ Tát giới). Trong điều giới thứ 42 này lại không cho giảng thuyết giới Bồ Tát trước những người chưa thọ giới Bồ Tát, vậy có chỗ nào mâu thuẫn chăng? … Xét ra nơi điều giới 39 ở trong phạm vi giải nạn cứu khổ nên bảo giảng thuyết với tất cả. Còn trong điều giới 42 này thời vì ngừa tội lỗi nên cấm giảng cho người chưa thọ giới. Cứ theo đây mà suy cứu thời Bồ Tát giới chỉ cấm người chưa thọ dự nghe trong thời bố tát mỗi nửa tháng, nên khi bố tát, trước khi tụng giới phải bảo người chưa thọ ra ngoài, còn những lúc khác thì không kể. Không đồng như TIỂU THỪA giới (tỳ kheo, tỳ kheo ni giới) thì cấm hẳn, vì người chưa thọ cụ túc giới mà dự biết danh nghĩa những giới điều của tỳ kheo hay của tỳ kheo ni, thời thành chướng nạn, đời này không được thọ cụ túc giới. Ý trên đây là thể theo bộ Hiệp Chú.” <Hết trích>
PHÂN TÍCH PHẢN BÁC
Theo giới này ‘người chưa thọ giới Bồ tát, hoặc với hàng ngoại đạo, những người tà kiến’ đều bị Bồ-tát giới xếp vào loại người ÁC (trừ Quốc vương). Bồ-tát giới còn nguy hiểm hơn nữa khi mạt sát tất cả những ai không thọ giới Bồ-tát (Đại Thừa) là ‘SÚC SANH', ‘NHƯ CÂY ĐÁ, KHÔNG CÓ TÂM THỨC; GỌI LÀ NGOẠI ĐẠO, BỌN TÀ KIẾN, KHÔNG KHÁC CÂY CỐI', 'NHỮNG NGƯỜI TÀ ÁC’ (?!) Khốn nạn đến thế thì thôi!
Không khốn nạn ư? Một kẻ xấu tâm chỉ cần trưng dẫn giới này, kích động các kẻ ngoại đạo thù ghét Phật giáo, các Bồ-tát con và cả các Phật tử khác chỉ còn có nước khốn đốn. Thế nhưng đâu phải chỉ có bấy nhiêu, các ‘tam tạng’ đời mới đầy dẫy những con dao hai lưỡi kiểu này.
Trong lịch sử, Phật giáo có trải qua những thời kì khốn khổ, bị vua quan tận diệt, âu cũng không có gì khó hiểu. Bồ-tát giới vơ đũa cả nắm, mạt sát mọi người là tà ác, súc sanh, cây đá. Các Phật tử không bị ngoại đạo trù dập mới là lạ!
Chính vì Bồ-tát giới là tà giới cho nên nó chất chứa đầy dẫy PHI LÝ VÀ MÂU THUẪN. Ở đây chỉ cần để tâm một chút cũng thấy sự trái khoáy giữa giới điều 42 này (cấm thuyết giới Bồ-tát cho người khác); và giới điều 39 (bắt phải giảng thuyết kinh luật Đại thừa cho tất cả chúng sanh, bất luận lúc nào và chỗ nào). Điều này chứng tỏ kẻ vẽ ra Bồ-tát giới HỨNG SAO NÓI VẬY, không thống nhất trước sau gì cả.
Theo đây Bồ-tát cho thọ giới cả các hàng dâm nam, dâm nữ, người thiếu căn, hai căn, huỳnh môn, tôi tớ và tất cả quỷ thần; ngược lại kẻ ‘TIỂU THỪA’ con Phật chính tông lại bị khinh khi chẳng khác gì ‘súc sanh’, ‘cây đá không tâm thức’, sánh ngang với ‘ngoại đạo, bọn tà kiến, không khác cây cối’! Rõ ràng sự trái khoáy này càng chứng tỏ Bồ-tát giới chỉ là sản phẩm của những ÁC MA TÀ VẠY.
Bên cạnh đó, chú thích 65 cho giới này cũng chỉ bộc lộ sự LƯƠN LẸO THẤU CÁY của kẻ đời sau nhằm khỏa lấp cho sự mâu thuẫn phi lý của Bồ-tát giới.
Rõ ràng tất cả những kẻ vẽ ra, thọ trì, bênh vực, chú thích cho Bồ-tát giới mới thực sự là 'súc sanh, cây đá, không tâm thức' cho nên mới không nhận ra một điều tà vạy ngu xuẩn lộ liễu của Bồ-tát giới: 'Phật Thích Ca' kiết giới này ngay khi vừa thành đạo, lúc này hội chúng đã có một ai mà cấm răn, phân biệt Đại Thừa - Tiểu Thừa?
Đã thế, những kẻ 'sủa hùa' phải vay mượn các nguyên tắc lễ Uposatha (Bố-tát) của luật Pātimokkha gốc để bao biện (không cho người chưa thọ giới tham dự lễ Bố-tát của người tu), nhưng lại giải thích bẻ quặt theo chiều hướng khác (bị ‘chướng nạn’) với thâm ý coi thường ‘Tiểu Thừa giới’.
Vấn đề cần phân biệt rõ ở đây để không rơi vào bẫy của ác ma, đó là Luật gốc của Đạo Phật chỉ không cho người chưa thọ giới Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tham dự lễ Bố-tát của tu sĩ; chứ không cấm các cư sĩ biết các giới luật Pātimokkha. Vì sao như vậy?
Vì lễ Bố-tát là nếp sinh hoạt nội bộ của bậc tu hành, người chưa thọ giới không tham gia là lẽ đương nhiên. Ngược lại, chính Đức Thế Tôn đã giải thích rõ cho Tôn giả Xá-lợi-phất biết lý do Phạm hạnh được tồn tại lâu dài hay không là do Chín Tạng Thánh Kinh có được giảng dạy chi tiết và tạng Luật Pātimokkha có được CÔNG BỐ hay không (xem ‘Phần Phân Tích Giới Bổn (Suttavibhanga), chương Veranja’). Chính vì thế trong Kinh Luật gốc không có chỗ nào cấm phổ biến Kinh Nikaya và Luật Pātimokkha.
Các cư sĩ có ý định xuất gia cần phải tìm hiểu cả giới luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni để chuẩn bị cho mình. Các cư sĩ khác cũng cần biết giới Pātimokkha để cùng với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni hộ trì giới hạnh cho nhau.
Ví dụ họ phải biết có giới nam nữ không được ngồi riêng nơi chỗ khuất vắng để không vi phạm, hoặc tu sĩ không được xúc chạm với người khác giới dù chỉ là đứa bé mới sinh v.v...
Ngoài ra người cư sĩ nào biết giới luật Pātimokkha cũng dễ dàng góp ý, nhắc nhở các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni phóng dật; nhờ vậy họ mới thực hiện tốt vai trò của người cư sĩ hộ pháp, hộ tăng.
Chính Đức Thế Tôn đã dạy: “Tà kiến, này các Tỷ-kheo, được che dấu khi thực hành, không có hiển lộ… Pháp và Luật được Thế Tôn tuyên thuyết, này các Tỷ-kheo, chói sáng, được hiển lộ, không có che giấu” (Tăng Chi 1, chương 3, trang 516).
Chính vì Bồ-tát giới chứa đầy tà kiến, tà pháp cho nên phải che dấu, không công bố rộng rãi, sợ người trí phát hiện phê phán. Còn chánh Pháp chánh Luật của Đức Thế Tôn là chánh kiến chánh trực không cần che dấu trước bất kỳ ai.
Cho nên trong khi Đức Phật không cấm công bố luật Pātimokkha, thì điều 42 của giới Bồ-tát Đại Thừa lại cấm phổ biến Bồ-tát giới. Vì sao lại cấm phổ biến rộng rãi Bồ-tát giới?
- Vì giới Bồ-tát có quá nhiều các điều luật TÀ VẠY, VÔ LÝ, MÂU THUẪN, NGU XUẨN. Nếu công bố rộng rãi, những người trí sẽ phát hiện được ngay và phê phán, lúc ấy thật khó cho Đại Thừa.
- Mọi người không rõ giới Bồ-tát thế nào cho nên không biết các tu sĩ Đại Thừa có PHẠM GIỚI hay không. Và dù các tu sĩ có phạm giới nhưng họ lươn lẹo dối trá rằng giới luật không cấm, các cư sĩ cũng không biết thực hư để góp ý.
- Riêng trong một hội chúng với nhau thì lại che dấu tội lỗi cho nhau (giới trọng thứ 6). Người ngoài nhìn vào thấy ai cũng ăn chay niệm Bụt, vị nào cũng có vẻ thiền tư nghiêm tịnh; thế nhưng ‘TRONG CHĂN MỚI BIẾT CHĂN CÓ RẬN’.
Tóm lại với điều luật 42 chỉ vỏn vẹn vài dòng, nhưng ẩn chứa nhiều mâu thuẫn bất cập và gây tai hại cho Phật giáo. Ai còn tin Bồ-tát giới là giới của Phật Thích Ca, họ mới chính là những ‘KẺ TÀ KIẾN, TÀ ÁC, SÚC SANH, ĐỜI ĐỜI SANH RA KHÔNG GẶP ĐƯỢC CHÁNH TAM BẢO, NHƯ CÂY ĐÁ, KHÔNG CÓ TÂM THỨC, KHÔNG KHÁC CÂY CỐI’.
Phải mượn Bồ-tát giới nặng lời, 'gậy ông đập lưng ông' như vậy, mới mong ai đó hãy tỉnh mau kẻo trễ!
TẬP SAN NGHIÊN CỨU LUẬT HỌC