Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

BỐ THÍ BA LA MẬT LÀ BỐ THÍ NGU XUẨN


Trong giờ thảo luận, tăng sinh Tín Đại lên tiếng hùng hồn:
_ Nghe đây, các vị phải biết có ba cấp độ bố thí. Bố thí bậc hạ là bố thí tài vật, thức ăn. Bố thí bậc trung là bố thí thân thể, tay, chân, mắt, mũi. Bố thí bậc cao là bố thí sanh mạng…
Ngay tức khắc, các học tăng khác nhao nhao góp ý kiến tới tấp.
_ Thưa bạn, kinh gốc nào dạy như vậy? Đức Phật nói điều ấy ở đâu? Hãy suy xét cho kỹ. Chớ vội tin.
_ Đề nghị bạn hãy chứng minh cụ thể? Phải chăng đấy chỉ là luận giải của mấy ông luận sư Bà-la-môn đưa vào để xúi dại con Phật?
Tín Đại vẫn chống chế:
_ Trong Hạnh tạng thuộc Tiểu bộ kinh, Bồ-tát bố thí cả hai mắt!
_ Bạn cần phải lưu ý, Tiểu bộ kinh được kết tập về sau. Mức độ tin cậy không bằng các tạng kinh được kết tập lần đầu như Trung Bộ, Trường Bộ, Tăng Chi, Tương Ưng. Tôi dám cam đoan với bạn rằng dù bạn có tìm cả cuộc đời cũng không thấy trong các tạng kinh kết tập lần đầu có đoạn nào dạy bố thí như điều bạn vừa nêu.
_ Không những thế, Đức Phật còn dạy rõ trong Tăng Chi 1, trang 73:“Trong một pháp luật được vụng thuyết, này các Tỷ-kheo, người tinh cần tinh tấn sống đau khổ. Vì cớ sao? Vì pháp được vụng thuyết... Trong một pháp luật được khéo thuyết, này các Tỷ-kheo, ai sống tinh cần tinh tấn, người ấy sống an lạc. Vì cớ sao? Vì pháp được khéo thuyết” . Thử hỏi tinh tấn bố thí như trong các kinh luận ngụy tạo có đau khổ không? có vụng thuyết không?
_ Trong chánh kinh Tăng Chi chương 2 còn ghi rõ: chỉ có hai loại bố thí là tài thí và Pháp thí thôi. Người nào tin vào luận giải có giỏi cứ thực hành nêu gương bố thí bậc trung và bậc cao xem thử?
_ Đừng nói gì tới hổ đói, sói đói; những người bệnh cần tim, gan, ngũ tạng của người khác nhiều lắm, tha hồ bố thí. Nói cương, dám làm theo mới hay!
_ Người trong gia đình hiến bộ phận cứu nhau không có gì lạ. Hiến máu nhân đạo cũng đáng khen vì máu sẽ tái tạo. Người chết đột ngột hiến thân thể cho người sống cũng phải lẽ. Tất cả đều có nhân quả. Nhưng ngàn năm trước y học chưa tiến bộ thì làm gì có chuyện ghép tim, thay phổi? Cho nên chuyện bố thí móc mắt, chặt tay, cắt chân cho thú ăn có phải là ngu si không?
_ Hơn nữa, chẳng lẽ không còn cách nào khác để cứu cho thú vật hay sao phải hiến thân mình? Vừa cứu người, cứu vật nhưng vẫn giữ được mạng mình mới thực sự hiền trí chứ?
_ Người cư sĩ bố thí mắt, tay, chân trở thành đui mù, què quặt làm sao xuất gia thành Tỳ-kheo? Vị Tỳ-kheo tàn tật mù điếc có làm khổ mình, khổ người không? Nếu tất cả Phật tử đều nổi máu bố thí bậc trung - cao như mấy ông luận sư gián điệp xúi dại, Phật giáo còn lại gì?
_ Phật dạy có bốn hạng người: 1) hại mình - hại người, 2) hại mình - lợi người, 3) lợi mình - hại người, 4) không hại mình - không hại người - lợi mình - lợi người. Xin hỏi hạng người nào hiền trí nhất, đáng cổ vũ nhất, đáng nêu gương nhất?
_ Đương nhiên là hạng người thứ tư. Dám liều mạng hiến thân mình để làm lợi cho kẻ khác có hơn gì mấy con cá cắn câu? Có hơn chi mấy con nai mắc bẫy?
Vì có quá nhiều câu hỏi hóc búa được nêu lên nên buổi thảo luận phải ngưng lại chờ Tín Đại nghiên cứu thêm rồi mới dám trả lời. Tất nhiên chẳng ai cần điều đó, vì ở đây, hỏi tức là trả lời.
Đại Từ Bi
________________________
Pháp Trích Lục
Tiểu Kinh Mãn Nguyệt (Số 110, Trung Bộ 3)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người bất chánh bố thí như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bố thí một cách vô lễ, bố thí không phải tự tay, bố thí không có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật không cần dùng, bố thí không nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh bố thí như người bất chánh.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh bố thí một cách lễ độ, bố thí với tự tay, bố thí có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật cần dùng, bố thí có nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh.

Tăng Chi 4 pháp, X. Phẩm A-tu-la

(V) (95) Que Lửa,

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Không hướng đến lợi mình, lợi người;
hướng đến lợi người, không lợi mình;
hướng đến lợi mình, không lợi người;
hướng đến lợi mình và lợi người.

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một que lửa lấy từ đống lửa thiêu xác, hai đầu đều cháy đỏ, ở giữa được trét với phân, không có tác dụng là đồ chụm lửa ở làng, hay ở rừng. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng người này giống như ví dụ ấy, tức là người không hướng đến lợi mình và lợi người.

3. Tại đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi người, không lợi mình. Người này so với hai hạng người kia, vi diệu hơn, thù thắng hơn.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình, không lợi người. Hạng người này so với hai hạng người kia, vi diệu hơn thù thắng hơn.

5. Tại đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình và lợi người. Hạng người này so với bốn hạng người trên, là tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và cực thắng.

Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ và đây gọi là tối thượng.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hạng người này hướng đến lợi mình và lợi người, hạng người này so với bốn hạng người trên là tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và cực thắng.

6. Bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.

(VI) (96) Lợi Mình (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người;
hạng người hướng đến lợi người, không lợi mình;
hạng người không hướng đến lợi mình, không hướng đến lợi người;
hạng người hướng đến lợi mình và lợi người.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hướng đến nhiếp phục thamcho mìnhkhông khích lệ người khác nhiếp phục tham; hướng đến nhiếp phục sân cho mình, không khích lệ người khác nhiếp phục sân; nhiếp phục si cho mình, không khích lệ người khác nhiếp phục si. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi người, không lợi mình?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không hướng đến nhiếp phụctham cho tự mình, khích lệ nhiếp phục tham cho người; không hướng đến nhiếp phục sân cho tự mình khích lệ nhiếp phục sân cho người; không hướng đến nhiếp phục si cho tự mình, khích lệ nhiếp phục si cho người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi người, không lợi mình.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không hướng đến lợi mình, không hướng đến lợi người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không hướng đến nhiếp phục tham cho tự mình, không khích lệ người khác nhiếp phục tham; không nhiếp phục sân cho tự mình, không khích lệ người khác nhiếp phục sân; không nhiếp phục si cho tự mình, không khích lệ người khác nhiếp phục si. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không hướng đến lợi mình, không hướng đến lợi người.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hướng đến nhiếp phục tham cho tự mình, và khích lệ người khác nhiếp phục tham; hướng đến nhiếp phục sân cho tự mình, và khích lệ người khác nhiếp phục sân; hướng đến nhiếp phục si cho tự mình và khích lệ người khác nhiếp phục si. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi ích cho mình và lợi ích cho người.

6. Này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

(VII) (97) Lợi Ích Cho Mình (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người;
hạng người hướng đến lợi người, không lợi mình;
hạng người không hướng đến lợi mình, không hướng đến lợi người;
hạng người hướng đến lợi mình và lợi người.

2. - Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người, mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, thọ trì các pháp đã được nghe, suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp.

Nhưng không phải là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; không phải là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình, không có lợi người.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi người, không có lợi mình?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau mắn nhận xéttrong các thiện pháp, không thọ trì các pháp đã được nghe, khôngsuy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, không có sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp tùy pháp.
Nhưng là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi người, không có lợi mình.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người, không hướng đến lợi mình, không hướng đến lợi người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không có mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không thọ trì các pháp đã được nghe, không suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, không có sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp;

Nhưng không phải là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; không phải là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.
Như vậy này các Tỷ-kheo, là hạng người không hướng đến lợi mình và lợi người.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người, mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, thọ trì các pháp đã được nghe, suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp.

Là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người.

6. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời.

(VIII) (98) Lợi Mình (3)

- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Hướng đến lợi mình, không lợi người; hướng đến lợi người, không lợi mình; không hướng đến lợi mình, lợi người; hướng đến lợi mình, lợi người.

Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

(IX) (99) Những Học Pháp

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Hướng đến lợi mình, không lợi người; hướng đến lợi người, không lợi mình; không hướng đến lợi mình, lợi người; hướng đến lợi mình, lợi người.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người tự mình từ bỏ sát sanh, nhưng không khích lệ người khác từ bỏ sát sanh; tự mình từ bỏ lấy của không cho, nhưng không khích lệ người khác từ bỏ lấy của không cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, nhưng không khích lệ người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục; tự mình từ bỏ nói láo, nhưng không khích lệ người khác từ bỏ nói láo; tự mình từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu; nhưng không khích lệ người khác từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi người, không lợi mình?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người tự mình không từ bỏ sát sanh, khích lệ người khác từ bỏ sát sanh; tự mình không từ bỏ lấy của không cho, khích lệ người khác từ bỏ lấy của không cho; tự mình không từ bỏ tà hạnh trong các dục, khích lệ người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục; tự mình không từ bỏ nói láo, khích lệ người khác từ bỏ nói láo; tự mình không từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu; khích lệ người khác từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi người, không lợi mình.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không hướng đến lợi mình, không hướng đến lợi người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người tự mình không từ bỏ sát sanhkhông khích lệ người khác từ bỏ sát sanh; tự mình không từ bỏ lấy của không cho, không khích lệ người khác từ bỏ lấy của không cho; tự mình không bỏ tà hạnh trong các dục, không khích lệ người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục; tự mình không từ bỏ nói láo, không khích lệ người khác từ bỏ nói láo; tự mình không từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu; không khích lệ người khác từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không hướng đến lợi mình, không hướng đến lợi người.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình, lợi người?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người tự mình từ bỏ sát sanhkhích lệ người khác từ bỏ sát sanh; tự mình từ bỏ lấy của không cho, khích lệ người khác từ bỏ lấy của không cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khích lệ người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục; tự mình từ bỏ nói láo, khích lệ người khác từ bỏ nói láo; tự mình từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu; khích lệ người khác từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người.

6. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

MA GIỚI BỒ TÁT XÚI KẺ NGU LÀM BẬY

Thật vậy, đọc kỹ nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 44 sẽ rõ
“44.- GIỚI KHÔNG CÚNG DƯỜNG KINH LUẬT 67
Nếu Phật tử, phải thường nhất tâm thọ trì đọc tụng kinh luật Đại thừa, dùng giấy, vải, hàng, lụa, thẻ tre, vỏ cây, cho đến lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm viết, để biên chép kinh luật, dùng vàng bạc cùng hương hoa vô giá và tất cả châu báu làm hộp, rương, đựng những quyển kinh luật. Nếu không y theo pháp mà cúng dường kinh luật, Phật tử nầy phạm “khinh cấu tội”.”
Chú thích 67 (trang 37 trong Bồ-tát giới):  “Theo văn, cúng dường kinh luật có 5 điều: (1) thọ trì, (2) đọc, (3) tụng (thuộc lòng), (4) biên chép, (5) hương hoa châu báu vàng bạc để đựng, để trang nghiêm. Lột da, chích máu, chẻ xương là cử trọng để lệ cho khinh. Như tiền thân của đức Bổn Sư đã thật hành để cầu Pháp.
Phân tích phản biện
Cần nói ngay, trong các Kinh Luật chánh gốc hoàn toàn không có một chứng tích nào cho thấy Đức Bồ-tát tự mình hay xúi người khác ‘lột da, chích máu, chẻ xương’. Những hành vi cuồng tín này chỉ có trong các tài liệu về sau hoặc của ngoại học, được các tổ sư gián điệp đưa vào trong Phật giáo nhằm làm hại những người con của Phật. Điều cần lưu ý thêm là chuyện tiền thân Đức Phật thí mạng cầu pháp chỉ có trong các tài liệu xuất hiện về sau này.
Trong Tiểu Kinh Mãn Nguyệt, Đức Phật đã dạy “Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh” (MN 110)
Có lẽ nào một ngàn năm sau Phật lại dạy người khác suy tư như một người bất chánh hại mình, hại người theo kiểu ‘lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm viết, để biên chép kinh luật’?
Kinh luật nào được tạo ra từ việc ‘lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm viết’ ­là thứ kinh luật của quỷ ma, chứ kinh luật của bậc Thánh làm sao được. Có Bụt tử nào ngu muội thực hành theo điều này thì viết chưa xong một trang giấy đã chết không kịp ngáp, chứ làm sao sống nổi. Dù có sống cũng thành kẻ thương tật khổ mình, khổ người chứ có hơn gì những con thiêu thân.
Nếu tất cả Bụt tử đều dại dột y theo Bồ-tát giới, thử hỏi Đại Thừa giáo còn lại gì ngoài những đống thịt da, xương máu?
Đời đã quá khổ vì sanh già bệnh chết, sầu bi ưu não, giờ lại càng khổ thêm vì lột da, chích máu, lấy tuỷ, chẻ xương; thì đại pháp cao siêu cái nỗi gì? Phải góp vàng bạc châu báu vô giá làm hộp đựng, trong khi thế gian còn biết bao nhiêu kẻ khốn khó, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc thì từ bi thánh thiện chỗ nào? Lợi tha bác ái với ai mà lên mặt đại giáo?
Theo Chánh Kinh Nguyên Thuỷ Đại Bát Niết Bàn còn ghi lại:
Rồi Như Lai nói với tôn giả Ānanda:
-- Này Ānanda, các cây Sāla song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandārava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột Trời Chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc Trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Nhưng, này Ānanda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ānanda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ānanda, các Người phải học tập như vậy.” (DN 16)
Còn đây là lời Phật dạy trong kinh “Các Uế Nhiễm”: Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn chấp nhận vàng và bạc, không từ bỏ nhận lấy vàng và bạc. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ ba của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn, không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. (AN IV:50)
Tương tự trong kinh “Manicùlam”, Đức Phật dạy: Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc.
Ðối với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục công đức. Ðối với ai được phép dùng năm dục công đức, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp.
Này Thôn trưởng, Ta nói như sau: Cỏ được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỏ. Củi được đi tìm cầu bởi ai cần đến củi. Cỗ xe được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỗ xe. Người được đi tìm cầu bởi ai cần đến người. Nhưng này Thôn trưởng, không bất cứ một lý do gì Ta nói rằng vàng, bạc được chấp nhận, được tìm cầu.(S.iv,325)
Một bậc Đạo Sư đã dạy như vậy có lẽ nào một ngàn năm sau bắt đệ tử “dùng vàng bạc cùng hương hoa vô giá và tất cả châu báu làm hộp, rương, đựng những quyển kinh luật. Nếu không y theo pháp mà cúng dường kinh luật, Phật tử nầy phạm “khinh cấu tội”.”??? 
Rõ ràng chỉ có những ai không biết thế nào là cúng dường tối thượng Phật, còn bị uế nhiễm bởi vàng bạc, bị năm dục trưởng dưỡng khiến thực hành theo phi sa-môn pháp, phi Thích tử pháp mới chấp nhận Bồ-tát giới 44 trên.
 Chính vì Bồ-tát giới tà vạy như vậy cho nên chú thích 67 phải khoả lấp theo kiểu Lột da, chích máu, chẻ xương là cử trọng để lệ cho khinh’. Chữa chạy kiểu này chẳng khác nào tố cáo Bồ-tát giới nói khoác, khoa trương, vọng ngữ. Xin nhắc lại Luật của Phật, của bậc Thánh không phải là thứ luật vỉa hè mà nói chuyện ‘để lệ cho khinh’.
Do vậy các con Phật cần nhận thức rõ ‘giới đần thì dân khổ, tu theo giới đần là tu khổ’!
NGHIÊN CỨU LUẬT HỌC

ĐÂY LÀ LÝ DO VÌ SAO TẠNG KINH NGUYÊN THUỶ SANSKRIT CỦA BẮC TÔNG BỊ TIÊU HUỶ KHÔNG CÒN MỘT CUỐN


Tỳ-kheo Chánh Tín hỏi Tỳ-kheo Chánh Tư Duy:
_ Hiền huynh còn nhớ nhân duyên nào khiến Đức Phật thuyết bài kinh Đại Nghiệp Phân Biệt không?
_ Nhớ chứ! Bài kinh này được Đức Phật dạy nhân từ sự kiện du sĩ ngoại đạo Potaliputta dùng thủ đoạn tự mạo nhận rằng chính bản thân ông ta được “như vầy tôi nghe” Đức Phật nói để xuyên tạc Phật Pháp và lừa gạt đệ tử Phật.
_ Hiền huynh còn nhớ Đức Phật đã nói gì khi được tường thuật lại?
_ Nguyên văn: “Này Ananda, Ta chưa từng thấy du sĩ ngoại đạo Potaliputta, thời câu chuyện này từ đâu xảy ra?”. Mỗi tu sĩ, cư sĩ Phật giáo cần phải ghi nhớ câu nói này để không bị kẻ khác lường gạt, dẫn dắt sai đường.
_ Hiền huynh có biết vì sao câu nói ấy lại bị cắt bỏ trong kinh Trung A-hàm tương đương không?(*)
_ Có vậy, các kinh văn giả “Như vầy tôi nghe” sau này mới ra đời được! Cứ để nguyên như kinh gốc, mọi người biết cảnh giác, hẳn con cháu du sĩ ngoại đạo Potaliputta làm sao “tôi nghe như vầy”?
_ Hiền huynh có biết vì sao các bản kinh gốc bằng chữ Sanskrit của tạng A-hàm đều bị biến mất không?
_ Phải thủ tiêu chứng cớ gốc để người ta không phát hiện được hàng ngàn sự biến cải, xuyên tạc Phật Pháp chứ sao!
_ Hiền huynh căn cứ vào đâu lại nói có hàng ngàn sự biến cải, xuyên tạc?
_ Lấy kinh Pali gốc cấp một làm căn bản để đối chiếu với các kinh thứ cấp sau này, hẳn mọi việc sẽ rõ như ban ngày. Nhưng phải giữ giới cho thanh tịnh đấy!
_ Nếu không thì sao?
_ Đêm tối vẫn hoàn đêm tối!
THÍCH CHÂN THẬT
___________

(*)  Kinh Đại Nghiệp Phân Biệt, số 136, Trung bộ 3  ≈ Kinh Phân Biệt Đại Nghiệp, số 171, Trung A Hàm.

Thứ Ba, 20 tháng 2, 2018

KINH GỈA TRIỆT KINH THẬT. SƯ GIẢ DIỆT SƯ THẬT


Hai cư sĩ ngồi nói chuyện với nhau. Cư sĩ thứ nhất mở sổ tay rồi hỏi cư sĩ thứ hai:
- Thưa đạo hữu, trong Bát Nhã Tâm Kinh của Đại Thừa có câu: “Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt…”và trong Trung Quán Luận của ngài Long Thọ có ghi: “Không sanh, không diệt. Không thường cũng không đoạn. Không một cũng không khác. Không đến cũng không đi”. Còn trong kinh Nguyên Thủy Phật Thuyết Như Vậy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng dạy tương tự: “- Này các Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Hư Không Vô Biên Xứ, không có Thức Vô Biên Xứ, không có Vô Sở Hữu Xứ, không có Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh; không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn tận khổ đau (Ud. 80). Những lời dạy trên hoàn toàn giống nhau, chứ có khác chỗ nào đâu?
- Đạo hữu mới chỉ thấy miếng mồi giả giống y như thật, chứ không thấy cái lưỡi câu chết người bên trong miếng mồi giả ấy.
- Sự khác biệt chết người ấy là gì, mong đạo huynh chỉ giáo!
- Đạo hữu nên nhớ kỹ cái “XỨ” này trong kinh Nguyên Thủy chính là Niết Bàn, là Diệt Đế; và Con đường đi đến Diệt Đế là Tám Chánh Đạo, tức là Đạo Đế bao gồm Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn tức Bốn Chánh Cần, Chánh Niệm - Bốn Niệm Xứ, Chánh Định - Bốn Thiền Bốn Thánh Định. Như vậy, đây cũng là sự khẳng định của Bốn Diệu Đế: Khổ - Tập - Diệt - Đạo, hay Bốn Thánh Chân Lý đúng cho mọi người, mọi lúc, mọi nơi. Bốn Thánh Đế này có chứng có đắc theo thứ tự rõ ràng.
- Cho nên trong cái “Xứ - Niết Bàn” ấy, Đức Thế Tôn mới nói không có bốn Thiền Vô sắc: không có Hư Không Vô Biên Xứ, không có Thức Vô Biên Xứ, không có Vô Sở Hữu Xứ và không có Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứ không phủ định Chánh Định - Bốn Thiền Hữu Sắc, tức Bốn Thiền Bốn Thánh Định?
- Đúng vậy! Thế nhưng cái “không sanh, không diệt, không nhơ không sạch, không đến không đi” của Bát Nhã và Trung Quán Luận của luận sư gốc Bà-la-môn Long Thọ lại là sự phủ địch sạch trơn tất cả, kể cả Bốn Thánh Chân Lý Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc”, nhưng lại “có” cái Bát-nhã-ba-la-mật mà đến “ba đời chư Phật còn phải nương theo”. Sự mâu thuẫn lập lờ đánh lận con đen này cũng chính là thủ đoạn “dùng vũ khí người để giết người”, đạo hữu có hiểu không?
- À, tôi hiểu rồi, để thực hiện được thủ đoạn này, các luận sư gốc Bà-la-môn như Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước… phải đóng vai gián điệp, phải xuất gia giả làm Tỷ-kheo.
- Đúng vậy. Họ phải nằm chính trong hàng ngũ của đạo Phật, tự đề cao mình là các “Bồ-tát”, tạo ra các kinh giả, luật dỏm, luận rởm để phủ định các Kinh - Luật gốc và khinh thường các Thánh Tăng A La Hán.
- Chỉ có cách ấy họ mới khiến cho những kẻ ngây thơ tin họ và xa rời Phật Pháp thực sự. Đương nhiên họ cũng phải ra sức ngụy biện lươn lẹo để những kẻ cả tin thấy có lý, nhờ vậy họ mới đổi trắng thay đen, mới biến ngụy thành chân được.
- Người ta chạy theo tà pháp của các luận sư Bà-la-môn gián điệp mà cứ ngỡ là Chánh Pháp. Buồn thay, trong Kinh văn Nguyên Thủy, Đức Thế Tôn đã cảnh giác rất nhiều về điều này, nhưng người ta đã không được nhận thức đầy đủ vì các bản Kinh gốc bằng tiếng Sanskrit đã bị tiêu hủy không còn một cuốn.
- Từ đây kinh giả mới triệt được Kinh thật, “Thánh Tăng” giả mới triệt được Thánh Tăng thật, “Niết Bàn” giả mới diệt được Niết Bàn thật.
- Vì sao, đạo hữu có biết không?
- Vì Đức Phật đã dạy trong Tương Ưng Nguyên Thủy: Khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm Diệu Pháp biến mất (S.ii,223).
- Diệu Pháp đã bắt đầu xuất hiện nơi đạo hữu rồi đó!
- Xin chân thành cảm ơn đạo huynh.
THÍCH CHÂN THẬT

CHƠI CHỮ BẨN THỈU


_ Này ông, y phục của các Tăng gọi là gì?

_ Là Tăng-già-lê hay y cà sa.

_ Vị nữ tu Tỳ-kheo-ni gọi là gì?

_ Là ni cô hay ni sư.

_ Vậy tại sao trong A Hàm lại thường mô tả các Tỳ-kheo thường “vắt Ni-sư-đàn trên vai” đi chỗ này chỗ kia và thường ngồi hoặc nằm lên trên là có ý gì?

_ Ôi dào, ông để ý kiểu chơi chữ nhỏ mọn của những tay luận sư ngoại học trí-thức-đểu làm gì cho bẩn tâm.

_ Ông gọi họ là “trí thức" có hơi quá, còn từ thứ ba thì… đúng y như vậy! Trong A Hàm và các kinh ngụy tạo Đại thừa có rất nhiều kiểu thấu cáy như thế.

CHỈNH VĂN
___________

Ghi chú: Theo Pali, từ “nisīdana
” có nghĩa là y lót ngồi.

TÀ KINH A HÀM ĐÁNH LẬN CON ĐEN



DẪN: Sự ngụy tạo dễ thấy nhất của các tạng A Hàm là các bài kinh được thêm vào trong khi tạng Pali không có. Ví dụ như các kinh "Ô Điểu Dụ", kinh "Thị Giả", kinh "Giới"... (số 65, 33, 47 Trung A Hàm).
Bên cạnh đó, các đoạn kinh A Hàm thêm vào trong khi kinh Pali tương đương không có cũng bộc lộ rõ sự cải biên phá hoại. So sánh hai bài kinh tương đương sau đây cho thấy rõ sự tà vạy của ngụy kinh A Hàm.
PHÂN TÍCH SO SÁNH
"Đại Kinh Bốn Mươi" (số 117, Trung Bộ Pali) và kinh "Thánh Đạo" (số 189, Trung A Hàm)
Chánh kinh Pāli: (Không có những đoạn tương đương)
Tà kinh A Hàm: “… Nếu thấy rõ tà ngữ là tà ngữ, thì đó là chánh ngữ. Nếu thấy chánh ngữ là chánh ngữ, thì đó cũng chính là chánh ngữ”.
…“Nếu thấy tà nghiệp là tà nghiệp, thì đó là chánh nghiệp. Nếu thấy chánh nghiệp là chánh nghiệp, thì đó cũng chính là chánh nghiệp”.
…“Nếu thấy tà mạng là tà mạng, thì đó gọi là chánh mạng. Nếu thấy chánh mạng là chánh mạng, thì cũng gọi là chánh mạng”.
Phân tích: Theo A Hàm, nếu thấy rõ nói láo là nói láo (nhưng vẫn nói láo), thì đó là chánh ngữ? Nếu thấy (kẻ khác) chánh ngữ là chánh ngữ, (nhưng mình còn nói láo) thì đó cũng chính là chánh ngữ?
_ Nếu thấy buôn lậu là buôn lậu (nhưng vẫn buôn lậu), thì đó là chánh nghiệp? Nếu thấy (kẻ khác) chánh nghiệp là chánh nghiệp, (nhưng mình còn tà nghiệp) thì đó cũng chính là chánh nghiệp?
_ Nếu thấy lừa đảo là lừa đảo (nhưng vẫn lừa đảo), thì đó là chánh mạng? Nếu thấy (kẻ khác) chánh mạng là chánh mạng, (dù mình còn tà mạng) thì đó cũng chính là chánh mạng?
Thật không thể hiểu nổi vì sao những đoạn kinh quá vô lý của A Hàm đã tồn tại hàng ngàn năm qua biết bao thế hệ. Dường như những người thọ trì không đọc hoặc có đọc nhưng trí tuệ đi vắng cả nên không một ai biết phân vân thắc mắc.
Các bản kinh Đại Thừa khác cũng như thế mà thôi! Nếu không thấy rõ ngụy kinh là ngụy kinh, thì chúng cũng là “chánh kinh” ngay tức khắc.
***
Chánh kinh Pāli: “Như vậy, này các Tỷ-kheo, có hai mươi thiện phần, hai mươi bất thiện phần. Ðại pháp môn Bốn mươi đã được chuyển vận không bị chận đứng lại bởi một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời.”  
Tà kinh A Hàm: “Đó là hai mươi phẩm thiện và hai mươi phẩm bất thiện. Tức là tuyên thuyết bốn mươi đại pháp phẩm được chuyển vận nơi Phạm luân mà không một ai có thể chế ngự mà bài xích, dù là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma, Phạm, và các loại thế gian khác.
“Đối với bốn mươi đại pháp phẩm mà Ta tuyên thuyết được chuyển vận nơi Phạm luân ấy, không một ai có thể chận đứng, dù là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên và Ma, Phạm, và các loại thế gian khác; mà nếu có Sa-môn, Phạm chí nào phi bác, người ấy đối với như pháp có mười trường hợp đáng bị chỉ trích.”
Phân tích: Ai đó dù có đọc bài kinh Thánh Đạo” trong A Hàm này đến một ngàn lần trong một trăm năm cũng không kiếm đâu ra có đủ bốn mươi pháp. Nếu muốn biết đầy đủ, xin mời đọc Chánh kinh Pāli.
- Trong  Chánh kinh Pāli, Đại pháp Bốn mươi bao gồm hai mươi thiện phần và hai mươi bất thiện phần. Có thể khái quát theo lời tổng kết của Đức Phật như sau:
Như vậy, này các Tỷ-kheo, đạo lộ của vị hữu học gồm có tám chi phần, và đạo lộ của vị A-la-hán gồm có mười chi phần...
Như vậy, này các Tỷ-kheo, có hai mươi thiện phần, hai mươi bất thiện phầnÐại pháp môn Bốn mươi đã được chuyển vận không bị chận đứng lại bởi một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời.”.
Mười thiện phần là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định, Chánh Trí Tuệ, Chánh Giải Thoát. Có mười thiện phần của Tỳ-kheo Hữu học (hữu lậu) và mười thiện phần của bậc Thánh. Tất cả có hai mươi thiện phần.
Tương tự cũng có mười bất thiện phần là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà tuệ, tà giải thoát. Có mười bất thiện phần của hàng phàm phu, và mười bất thiện phần của sa-môn theo tà pháp (phi thánh). Tổng cộng có bốn mươi phần (Xem chánh kinh Pali)
Như vậy các pháp thiện và bất thiện theo nhau vận chuyển trong tự bản thân mỗi người chứ không phải được Phạm luân (?) vận chuyển, và càng không có chuyện Đức Thế Tôn tuyên thuyết theo sự “chuyển vận nơi Phạm luân ấy” như A Hàm cải biên vừa rối rắm lại vừa lập lờ đánh lận con đen.
Nói A Hàm đánh lận con đen vì người đọc phải  lưu ý kỹ kẻo bị đánh lừa. Các nhà cải biên gắn vào miệng Bụt A Hàm nói “Phạm luân” chứ không phải “Pháp luân”. Theo Hán ngữ, Phạm chí là Bà-la-môn, như vậy Phạm luân chính là bánh xe pháp của mấy ông Bà-la-môn chứ còn thứ gì vào đây. Điều này có nghĩa Bụt A Hàm chỉ vận chuyển đại pháp bốn mươi của Phạm thiên Bà-la-môn thôi, chứ chẳng có gì là của Bụt.
Đúng là “cháy nhà ra mặt chuột”, sáng tà kinh mới rõ tà sư.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC