Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

CẢM HỨNG 'KINH ĐẠI THỪA'

@ Đọc đoạn kinh dưới đây trong bài Kinh Hiền Ngu, số 129, Trung Bộ 3, người đọc sẽ hiểu vì sao các luận sư gốc Bà-la-môn lại kết tập một kinh Hiền Ngu khác cho Phật giáo Đại thừa với nhiều thâm ý sai biệt.
“Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây".
Ví như các Bà-la-môn chạy đến, ngửi được mùi lễ tế sanh, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây". Cũng vậy này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây".
 Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân là gì? Các loại gà, heo, chó, chó rừng (giả can), hay tất cả các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn phân. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loại hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn phân.”
Cần lưu ý thêm, bài kinh Hiền Ngu trong Pali đã bị đổi tên thành kinh “Si Tuệ Địa” trong A Hàm tương đương. Trong đó các dịch giả đã biến cải từ các Bà-la-môn ăn phân thành “trai, gái” nói chung để các “gái, trai” nào đọc A Hàm dễ thù ghét Phật giáo hơn. Đương nhiên với sự cải biên này,  những người trí sẽ dễ dàng nhận diện các dịch giả A Hàm là ai.
Hãy đọc kỹ đoạn tương đương trong A Hàm sẽ rõ: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là súc sanh khổ? Nếu chúng sanh sanh vào trong súc sanh, là loài súc sanh khi nghe mùi đại tiểu tiện của người ta, liền chạy đến chỗ đó, ăn loại đồ ăn đó. Cũng như trai, gái nghe được mùi ẩm thực liền chạy đến và nói rằng: ‘Đây là đồ ăn, đây là đồ ăn.’
@ Trong chánh kinh Pali, bài kinh “Vô Tránh Phân Biệt”, số 139, Trung Bộ 3, Đức Thế Tôn đã phân tích rõ sự khác biệt giữa các pháp phải tránh né không nên thực hiện và các pháp không nên tránh né cần phải thực hiện, sau đó trong phần kết luận, Ngài đã tán thán Thiện gia nam tử Subhuti (Tu-bồ-đề) vì ông đã biết thực hành đạo phân biệt những điều nên tránh né và không nên tránh né:
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu học như sau: "Chúng ta sẽ biết hữu tránh pháp và chúng ta sẽ biết vô tránh pháp. Sau khi biết hữu tránh pháp và sau khi biết vô tránh pháp, chúng ta sẽ hành trì vô tránh đạo". Và này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Subhuti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô tránh pháp”.
Một người tinh ý sẽ hiểu được vì sao trong kinh Kim Cang của Đại thừa, “Bụt Kim Cang” lại dạy ông Tu-bồ-đề “vô phân biệt” một cách hoàn toàn trái ngược, cùng với sự miệt thị người anh em nguyên thủy Tiểu thừa: “…giáo pháp Đại thừa, nói cho những người đi theo giáo pháp Đại thừa tối thượng…bởi vì những ai ưa pháp Tiểu thừa, vẫn còn ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả” (Đoạn 25).
@ Trích chánh kinh Pali “Phân Biệt Sự Thật”, số 141, Trung Bộ 3: “-- Vô thượng Pháp luân đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển vận ở vườn Lộc Uyển, chỗ chư Tiên đọa, tại Ba-la-nại. Không một Sa-môn, Bà-là-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chận đứng, chuyển vận ngược lại, tức là sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ Bốn Thánh-đế
Ngoài đoạn kinh trên, trong Chánh Kinh Pali, Đức Thế Tôn trước sau như một đều tán dương và chỉ dạy các Phật tử phải thọ trì tu tập BỐN THÁNH ĐẾ: KHỔ - TẬP - DIỆT - ĐẠO. Chính vì thế, đây là nguồn cảm hứng để hàng trăm năm sau Bồ tát Quán Tự Tại của Đại thừa giáo “dạy” cho “Thằng con Sá…” phủ định sạch trơn BỐN THÁNH CHÂN LÝ của Đạo Phật:
"Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc”.
Cho nên những ai đang hàng ngày tụng niệm BÁT NHÃ KINH TÂM, và các NGỤY KINH ĐẠI THỪA khác của các tổ sư gốc Bà-la-môn là họ đang thọ trì tà kiến, chống lại Đức Phật, xa rời Chánh Pháp, bước gần tới địa ngục mà không biết.
KIM MAO SƯ VƯƠNG

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

ĐỨC PHẬT DẠY VÌ VÔ MINH NÊN TÁI SANH LUÂN HỒI. CÁC ĐẠI THỪA SƯ CÃI PHẬT, NGUYỆN LUÂN HỒI TÁI SANH

Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (Sn 139)
* Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: "Có thể có chân chánh tùy quán hai pháp theo một pháp môn khác không?" Các Thầy cần phải trả lời: "Có thể có". “Có thể có như thế nào?”
"Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên vô minh", đây là tùy quán thứ nhất.
"Do đoạn diệt, ly tham vô minh không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai.
Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Ðược chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất Hoàn.
Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
729. Những ai tiếp tục rơi,
Dòng luân chuyển sanh tử,
Ðến hữu này hữu khác,
Sanh thú do vô minh.
730. Vô minh này, đại si,
Ðưa đến luân chuyển dài,
Chúng sanh, Minh đạt được,
Không còn phải tái sanh
...”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Tái sanh do vô minh,
Không tái sanh là Minh,
Nguyện luân hồi, đại si,
Đến khổ này khổ khác,
Do đức tin lầm lạc,
Vào tà giáo bịp lừa,
Đúng, vô minh là khổ.

Tà tín cũng khổ lây.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
 “Bậc Ðạo sư lại nói thêm:
731. Phàm khổ gì hiện hữu,
Tất cả duyên các hành,
Do đoạn diệt các hành,
Khổ không có hiện hữu.
732. Do biết nguy hiểm này,
Khổ do duyên các hành,
Tịnh chỉ tất cả hành,
Do phá hoại các tưởng,
Như vậy, khổ được diệt,
Biết như thực là vậy.
733. Bậc Hiền trí chánh kiến,
Hiểu biết, với chánh trí,
Nhiếp phục Ma kiết sử,
Không đi đến tái sanh
.
...
{ Thừa tự Pháp trích lục
Kẻ vô trí tà kiến,
Tà tín vào tà nhân,
Chấp tà giới, tà pháp,
Bị ác ma trói cột,
Cứ tái sanh luân hồi.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
742. Do duyên thủ, có hữu,
Do hữu, đi đến khổ,
Từ sanh nên có chết,
Ðây hiện hữu của khổ.
743. Do vậy, bậc Hiền trí,
Diệt thủ, nhờ chánh trí,
Nhờ thắng trí sanh diệt,
Không đi đến tái sanh
...”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Cứ ước nguyện tái sanh,
Do chấp thủ tà pháp,
Cứ hữu sanh, hữu khổ,
Phải già chết luân hồi,
Vì bị ma trói cột,
Nhưng cứ tưởng oai hùng,
Khổ lại thêm cùng khổ.
Khổ khổ là như vậy.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
 “746. Do đoạn tận hữu ái,
Tâm Tỷ-kheo tịch tịnh,
Vượt khỏi sanh luân chuyển
Vị ấy không tái sanh.
...”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Không đoạn tận hữu ái,
Tâm khó an, tịch tịnh,
Cứ tái sanh luân chuyển,
Trong nhà lửa mê mờ.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
754. Chúng sanh thuộc sắc giới,
Chúng sanh trú vô sắc,
Không tuệ tri đoạn diệt,
Chúng đi đến tái sanh
.
755. Những ai liễu tri sắc,
Khéo an trú vô sắc,
Giải thoát trong đoạn diệt,
Họ từ bỏ sự chết.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Không tái sanh, không chết,
Giải thoát mọi hiểm nguy,
Biết đường cứu người khác,
Vị tự cứu được mình.
Bản thân còn lầm lạc,
Trong tà pháp luân hồi,
Nói cứu cho người khác,
Là chuyện hão huyền thôi.
Trích Kinh Hang Ðộng Tám Kệ (Sn 151)
779. Do liễu tri các tưởng,
Vượt qua khỏi bộc lưu,
Bậc Mâu-ni không nhiễm,
Ðối với mọi chấp thủ,
Với mũi tên rút ra,
Sở hành không phóng dật,
Không cầu mong đời này,
Không mong ước đời sau
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Không liễu tri các nguyện,
Không vượt khỏi tà kinh,
Bị tà nhân dẫn giắt,
Chấp thủ mọi tà pháp,
Bị dính mũi tên ma,
Cả đời này tụng chú,
Cả đời sau khổ bù.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Pingiya (Sn 217)
Đức Thế Tôn dạy cho thanh niên Pingiya
Thế Tôn:
1121. Thế Tôn đáp lại rằng:
Hỡi này Pin-gi-ya,
Thấy được sự tác hại,
Trong các loại sắc pháp,
Chúng sanh sống phóng dật,
Bị phiền lụy trong sắc,
Do vậy, Pin-gi-ya,
Ông chớ có phóng dật,
Hãy từ bỏ sắc pháp
Chớ đi đến tái sanh.
...
Thế Tôn:
1123. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Pin-gi-ya!
Thấy chúng sanh loài Người,
Rơi vào trong khát ái,
Bị già nua đốt cháy,
Bị già nua chinh phục
Do vậy, Pin-gi-ya,
Ông chớ có phóng dật
Hãy từ bỏ khát ái,
Không còn bị tái sanh
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Hỡi này Bà con ma,Chỉ với một Kinh Tập,Phật dạy biết bao lần,Vô minh phải tái sanh,Có Minh luân hồi dứt.
Do vậy, 
Bà con ma,Các người chớ tin bậy,
Hãy từ bỏ 
hắc pháp
Chớ 
dại nguyện tái sanh.
Hỡi này Bà con ma!Chớ có tin tà nhân,
Rơi vào trong 
tà đạo,
Bị 
vô minh che phủ,
Bị 
tà kiến bao trùm
Do vậy, 
Bà con ma,Mỗi người mau tỉnh thức
Hãy từ bỏ 
ác pháp,
Không còn bị tái sanh.
Trên đây mới chỉ là các trích đoạn trong Kinh Tập, một tạng Kinh nhỏ trong toàn bộ Chín Tạng Thánh Kinh của Chư Phật; thế nhưng cũng đủ nói rõ chủ trương không tái sanh của Chư Phật, nêu rõ tái sanh là vô minh, giải thoát không còn tái sanh là Minh.
Bản thân mỗi người có giải thoát mới biết cách giúp người khác giải thoát. Mình còn chìm trong tham-sân-si, luân hồi khổ đau mà nói chuyện cứu cho người khác là nói khoác, nói láo. 
Các Tỳ-kheo Thanh Văn nỗ lực ngay trong hiện tại để cứu mình, sau đó tích cực đào tạo thế hệ theo sau tự đảm trách nhiệm vụ của mình, vì thế các ngài không cần phải tái sanh nhưng vẫn thực hiện trọn vẹn đạo lý Từ Bi của người con Phật.
Thế nhưng các tổ sư Bà-la-môn gián điệp phải xóa bỏ chánh lý này. Họ phải lươn lẹo để giắt dẫn con Phật theo một mê lộ khác trái ngược với truyền thống cũ. 
Họ phải tung vào các kinh giả, luật giả, luận dỏm để phá hoại Phật Pháp ngay từ bên trong
Họ phải đưa pháp môn niệm chú, cùng các hình thức tế lễ theo kiểu Bà-la-môn giáo vào trong Đạo Phật nhằm biến thái Đạo Phật. 
Họ phải ngụy biện cho tà nguyện ‘tái sanh cứu đời’ để phân hóa Tăng chúng, lôi kéo con Phật xa rời Chánh Pháp của Phật, làm suy đồi Phật giáo.
Tóm lại mỗi người con Phật phải ý thức rõ việc này để tự cứu lấy chính mình và giúp cho mọi người.
TẠP CHÍ PHẬT HỌC CHÁNH TRUYỀN

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

TẠNG THỨ MƯỜI


Như vầy tôi tự ghi
Một thời bấy giờ vua A-tu-la Vepaciti, trụ trì cung rồng Ta-kiệt-la (nơi theo Bồ-tát Long Xà có chứa tạng kinh Huê Nghiêm), tìm đến gặp Thần Hộ Pháp Dhammapàla, vị thiên trấn giữ Thánh địa Vườn Nai. 
Sau khi đến, vua A-tu-la nhiễu quanh Thần Hộ Pháp Dhammapàla ba vòng về phía bên phải. Nhiễu quanh ba vòng xong, vua A-tu-la kính cẩn đảnh lễ Thần Hộ Pháp Dhammapàla rồi đứng sang một bên. Sau khi đứng sang một bên, vua A-tu-la thưa với Thần Hộ Pháp Dhammapàla:
_ Bạch ngài Dhammapàla, tôi nghe nói trong kinh Tiểu Thừa Pali Đức Thế Tôn trước sau chỉ nhắc đến Chín Tạng Thánh Kinh Nguyên Thuỷ. Thưa, chuyện này có đúng không ạ?
_ Đúng thế! Cụ thể Chín Tạng Thánh Kinh đó là1. Khế Kinh, 2. Ứng Tụng, 3. Biện Giải, 4. Kệ Tụng, 5. Không Hỏi Tự Nói, 6. Phật Thuyết Như Vậy, 7. Bổn Sanh, 8. Vị Tằng Hữu và 9. Phương Quảng.
_ Bạch ngài, còn những kinh văn xuất hiện sau này do các luận sư Bà-la-môn quảng bá như Pháp Huê, Huê Nghiêm, Kim Càn, Duy Ma Quái v.v..., tất cả đều cao siêu phi thường hơn các kinh điển nhị thừa sơ khai của hàng A La Hán Thanh Văn kém cỏi. Các kinh tối thượng ấy chỉ dành riêng cho các bậc siêu nhân, thượng thừa, vĩ đại, nên không thể xếp chúng vào các tạng kinh thấp kém trên được. Vậy phải xếp vào đâu ạ?
_ Vào tạng thứ mười!
_ Thưa tạng gì?
Kinh Ngụy Tạo!
_ Trời!
Vua A-tu-la ôm đầu hét lớn, té nhào tại chỗ, còn các chư Thiên khác lại hoan hỷ phụng hành, lao vút xuống dương trần báo tin.
Tại sao thế nhỉ? Thật bất khả tư nghì!
Thần Hộ Pháp Dhammapàla

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

LA MA ĐẠI THỪA CÃI PHẬT NGUYỆN TÁI SANH


Trong Đại Thừa giáo, nhất là Mật Tông, rất phổ biến chuyện các nhà sư nguyện tái sanh độ đời. Họ có làm chủ được tái sanh thật không, chỉ có Đức Phật là biết rõ. Nhưng rõ ràng là các vị này cãi lời Phật.

Bởi, trước sau như một, Đức Phật Thích Ca chủ trương không tái sanh, đoạn dứt luân hồi, giải thoát hoàn toàn. Dưới đây là trích đoạn một số bài Chánh Kinh Đức Phật Thích Ca khuyên dạy không tái sanh.
Trích Kinh Rắn (Sn 1)
16. Với ai, không có gì,
Do rừng ái sanh khởi,
Tạo nhân khiến trói buộc
Con người vào tái sanh
.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Với ai có dính mắc
Do dại nguyện sanh khởi
Muốn trầm luân vô minh
Nên luân hồi sanh tử
Theo tà pháp không bỏ
Cứ mong muốn tái sanh
Như loài rắn chui rúc
Trong rừng rậm tối mù.

Kiếp này xa Chánh Pháp,
Kiếp sau đọa cõi mù.
Trích Kinh Dhaniya (Sn 3)
29. Giống như con bò đực,
Giật đứt các trói buộc,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã nói lên như vậy.
Như voi làm bựt đứt
Các giây leo héo mục,
Ta không còn đi đến,
Chỗ thai tạng tái sanh
.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Giống như con thiêu thân,
Lao mình vào lửa cháy,
Người khôn không như vậy,
Theo gương bậc Đại Hùng,
Như người hiền tránh ác,
Tránh luôn cả khổ đau,
Không còn muốn đi đến,
Chỗ tái sanh thai tạng.
Nếu ai muốn trái
 ngược,
Cứ đường dữ lao đi.
Trích Kinh Từ Bi (Metta Sutta) (Sn 25)
152. Ai từ bỏ tà kiến,
Giữ giới, đủ chánh kiến,
Nhiếp phục được tham ái,
Ðối với các dục vọng,
Không còn phải tái sanh,
Ði đến thai tạng nữa
{ Thừa tự Pháp trích lục
Ai cố chấp tà kiến,
Tà giới, thiếu chánh kiến,
Bị tham ái nhiếp phục,
Trong tâm đầy dục vọng,
Cứ còn muốn tái sanh,
Đi đến thai tạng nữa,
Tạo khổ đau nhiều phía,
Như vậy chẳng từ bi,
Với mình và với người.
Trích Kinh Hemavata (Sn 27)
Sātāgira:
163. Sự thật là vị ấy,
Ðầy đủ với các Minh,
Ðây là lời Dạ-xoa,
Tên Sātāgira
Sở hành thật thanh tịnh,
Mọi lậu hoặc đoạn tận,
Thật sự đối vị ấy,
Không còn có tái sanh
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Dạ-xoa kia còn biết,
Vị đầy đủ các Minh,
Các phiền não đoạn tận,
Mới không còn tái sanh.
Nhưng nhiều người thiếu trí,
Tin theo kẻ lọc lừa,
Cùng tà pháp, dại nguyện,
Phải tái sanh luân hồi,
Trong nhà lửa khổ đau.
Trích Kinh Sūciloma (Sn 47)
273. Hãy nghe! Này Dạ-xoa,
Những ai được rõ biết
Từ đâu, khiến sanh khởi,
Họ tẩy sạch nhân ấy.
Họ vượt qua dòng nước,
Chảy mạnh khổ vượt này,
Trước chưa được vượt qua,
Không còn có tái sanh.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Hãy nghe! Này Dại nhân,
Những ai 
tin Đại ác,
Khiến 
tà pháp sanh khởi,Không tẩy sạch nhân ấy,
Khó vượt qua dòng nước,
Chảy mạnh
 đầy khổ đau,
Trước 
sau không vượt được,Dòng tái sanh luân hồi.
Trích Kinh Māgha (Sn 86)
Phật dạy cho thanh niên Māgha
“...502. Những ai ngay đời này,
Như thật rõ biết được,
Ðây đời sống cuối cùng,
Không còn có tái sanh,
Ðúng thời, đối vị ấy,
Hãy cúng đồ tế tự
Vị Phạm chí cầu phước,
Hãy bố thí như vậy.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Đúng thời cúng dường vị
Không còn phải tái sanh,
Gieo duyên lành Chánh Pháp,
Nhờ dòng Pháp lưu chuyển,
Tới bến bờ an vui,
Không còn phải trở lui,
Trong đầm lầy hôi thối.
Trích Kinh Sabhiya (Sn 91)
514. Thế Tôn bèn đáp lại:
Hỡi này Sabhiya,
Ai chính với con đường,
Do tự mình tạo ra,
Ði đến sự tịch tịnh,
Vượt qua các nghi hoặc,
Từ bỏ, đoạn tận hẳn
Cả hữu và phi hữu,
Phạm hạnh đã thành tựu,
Tái sanh đã đoạn tận,
Vị ấy được xứng danh,
Gọi là vị Tỷ-kheo
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Ai không bỏ, đoạn tận
Cả hữu và phi hữu,
Phạm hạnh không thành tựu,
Còn tái sanh luân hồi,
Vị ấy chưa xứng danh,
Là người con của Phật.
Vị ấy còn đứng ngoài,
Chánh giáo pháp Thế Tôn,
Còn ở xa giải thoát,
Mọi phiền não khổ đau,
Không phải là con Phật.
Trích Kinh Vāsettha (Sn 115)
Thế Tôn dạy cho hai thanh niên Bà-la-môn Vāsettha và Bharadvaja
“...656. Ba Vệ-đà thành tựu,
An tịnh, tái sanh đoạn,
Vāsettha nên biết,
Kẻ ấy được Phạm Thiên,
Ðược Thiên chủ Sakka,
Biết đến thật tường tận.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Bà-la-môn đoạn tận,
Không còn phải tái sanh,
Đến Phạm Thiên còn biết,
Thiên chủ Sakka khen.
Nhưng nhiều người không biết,
Cứ dại nguyện tái sanh,
Vì nghe theo tà đạo,
Lạc cõi mù khổ đau.
THÍCH CHÁNH KINH sưu tầm

BỒ TÁT GIỚI CẤM PHẬT TỬ THEO PHẬT

Thật vậy, ai còn phân vân hãy đọc kỹ nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 34 dưới đây và phần Phân tích phản biện sẽ rõ.
 Nguyên văn “34.- GIỚI TẠM BỎ BỒ ÐỀ TÂM 59
Nếu Phật tử, ngày đêm sáu thời đọc tụng giới Bồ Tát nầy. Nên giữ gìn giới luật trong tất cả khi đi đứng nằm ngồi, vững chắc như kim cương, như đeo trái nổi để qua biển lớn, như các Tỳ Kheo bị cột bằng dây đỏ. Thường có tín tâm lành đối với Ðại thừa. Tự biết rằng mình là Phật chưa thành, còn chư Phật là Phật đã thành, rồi phát Bồ đề tâm và giữ vững không thối chuyển . Nếu có một tâm niệm xu hướng theo Nhị thừa hay ngoại đạo, Phật tử nầy phạm “khinh cấu tội”.”
Chú thích 59 (tr.36):  “Nhị thừa là Tiểu thừa, cũng gọi là Thanh văn thừa, A la hán là tột đích, và Trung thừa, tức là Duyên giác thừa, Bích chi phật là đạo quả cuối cùng. Đại thừa là con đường duy nhất của Phật quả. Là Phật tử phải nhắm quả Phật mà tiến, nếu xu hướng theo Nhị thừa, thời là sái nẻo, đâu còn phải thật là Phật tử, nên phạm tội.  
Phân tích phản biện
Như đã nói ở trên, có lẽ nào một bậc Chánh Đẳng Giác 45 năm trước sau chỉ thuyết pháp ‘Nhị Thừa - Thanh Văn - A La Hán’, vài trăm năm sau xuất hiện trong tài liệu mới lại xổ toẹt hoàn toàn, xúi đệ tử xem thường tẩy chay những điều mình đã dày công giảng dạy? Một đứa con nít tám tuổi được giải thích cặn kẽ cũng không tin chuyện này.
* Chính Đức Phật đã dạy:  Ta không có Ðạo Sư, Bậc như Ta không có. Giữa thế giới Nhơn, Thiên, Không có ai bằng Ta. Bậc Ứng Cúng trên đời,  Bậc Ðạo Sư vô thượng. Tự mình Chánh Ðẳng Giác, Ta an tịnh, thanh thoát. (Kinh Thánh Cầu, MN26). Có lẽ nào vài trăm năm sau ngài lại phán ‘chúng sanh đồng Phật tánh’ để kẻ đời sau phong cho con khỉ Tề Thiên cũng làm Phật được? 
Mà chúng sanh là ai? Chẳng lẽ trâu, bò, dê, ngựa, chó, mèo...??? Mà khốn thật, cho nên từ đây trong Đại thừa giáo mới có chuyện "con chó có Bụt tánh". Đốn mạt đến thế thì thôi!
* Chính ngài Ananda đã nói rõ trong Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp’, MN 123:
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn : "Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời ! Ta là bậc tối tôn ở trên đời ! Ta là bậc cao nhất ở trên đời ! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa".
Rõ ràng cái gì duy nhất, độc nhất, hiếm hoi nhất, hy hữu nhất mới quý. Trái lại nhiều như cát sa mạc còn quý báu gì nữa. Chính vì thế các tam tạng sau này do các Bà-la-môn giới thiệu mới vẽ vời hàng ngàn, hàng vạn, hàng ức tỷ Bụt Đại Thừa, nhằm tầm thường hóa danh hiệu Phật.
Trong khi “Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm: Khi Phật với thượng trí, Chuyển bánh xe Chánh pháp, Cho Thiên giới, Nhân giới, Bậc Ðạo Sư vô tỷ (Bài kinh Sư Tử (S.iii,85))
Và đây nữa: …Như vậy họ lễ NgàiVĩ đại, không sanh hữu. Thiên giới, thế giới nàyKhông ai được bằng Ngài.” (AN IV:23).
‘Bậc Đạo Sư vô tỷ’ có nghĩa là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong kiếp này không có so sánh, không có ngang bằng, không có ai được bằng Ngài. Ấy thế mà vài trăm năm sau Ngài nhập diệt, các tam tạng đời mới lại thi nhau cải biến gắn vào miệng Ngài câu nói trái ngược ‘Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành’ (?) 
Để rồi từ đây trong Đại Thừa giáo sản sinh biết bao những kẻ không ra gì nhưng đã cao mạn tự xưng Phật sống, Phật tái sanh, Phật gia, Phật bà, Phật mẫu, Tiểu Phật v.v.. và v.v... nhiều đến phát ngán.
Chính Đức Thế Tôn đã tuyên bố: “Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác (AN I:1-7).
Thế nhưng kinh 42 Chương của Đại Thừa do các Bà-la-môn kết tập lại thấu cáy cùng cực “Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn, không bằng cho một vị vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng ăn”??? ‘Vị vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng’ là ai? Các Đại Thừa sư trách sao được dân chúng kháo nhau ‘vị vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng’ là vị đang vô tâm ngoài đồng vô tư gặm cỏ. Có vị nào trong số đó có niệm, có trụ, có tu, có chứng?
Hoá ra các Bụt tử dạy nhau trịch thượng “Đại thừa là con đường duy nhất của Phật quả. Là Phật tử phải nhắm quả Phật mà tiến” để rồi không biết rằng họ đã bị các tổ sư Đại thừa gốc Bà-la-môn chơi cho một cú sấp mặt, nhục nhã ê chề Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn, không bằng cho một vị vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng (ngoài đồng) ăn”!!! Tin theo gián điệp, chết cả nút là vậy!
Các Đại Thừa sư vô tư truyền dạy nhau cuốn ‘Kinh 42 Chương’ qua hàng bao thế hệ, vì không ai nhận ra sự thâm độc của các gián điệp Bà-la-môn. Họ không thèm đọc Kinh Luật Nguyên thuỷ để biết có hàng ngàn dẫn chứng về sự thấu cáy thâm hiểm của ngoại học đối với Tam Bảo. Nếu biết được chắc hẳn họ đã phải cảnh giác trước các tài liệu mới sau này, và khi đó họ sẽ thẳng tay ném bỏ các tam tạng ngụy tạo cùng với ‘vị vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng’ ra ngoài đồng... gặm cỏ.
Đáng tiếc thay cho đến bây giờ nhiều người vẫn còn chưa nhận thức được sự khốc liệt của cuộc đấu tranh ý thức hệ tôn giáo.
Giả sử giờ đây có kẻ ác tâm giả danh con Phật giới thiệu tam tạng mới và khoác lác nói nó cao siêu hơn cả Đại Thừa. ‘Phật, Bồ-tát’ của chúng có thần lực hơn cả ‘Phật, Bồ-tát Đại Thừa’. Đại Thừa giáo chỉ dành cho thời kỳ mạt pháp của những kẻ ngu si ngoại đạo, sau đó là thời của "Siêu Thừa giáo" mới chính là của Phật thật sự v.v.. và v.v...
Thế nhưng vài trăm năm sau lại có những kẻ tin ngay những điều này và khinh chê tất cả kinh - luật - luận Đại Thừa. Các Bồ-tát con nghĩ sao về những kẻ hậu sanh này? Họ có quá ngây thơ không?
Một con cáo trong truyện cổ tích ‘Cô Bé Quàng Khăn Đỏ’ còn biết giả giọng người khác để đánh lừa người thân của họ, chẳng lẽ những kẻ thù ghét Đạo Phật lại không dám giả giọng Phật để đánh lừa con Phật hay sao?
Những kẻ muốn phá thành Troy phải nói dối, giả ngợi khen để kẻ địch cao mạn, mất cảnh giác, thích thú tự rước con ngựa gỗ chết người vào trong thành trì của mình, để rồi bị tiêu diệt. Không lẽ các tổ sư gián điệp chống phá Đạo Phật không dám bịa ra chuyện ‘chúng sanh đồng Phật tánh’ để tầm thường hoá danh hiệu Phật, để kẻ đời sau phong cho cả con khỉ cũng làm Phật được?
Triệu Đà muốn phá thành trì Cổ Loa, muốn tráo Nỏ Thần thật bằng nỏ thần giả phải đem Trọng Thuỷ giả kết thân, làm nội gian gián điệp mới thực hiện được kế sách. Chẳng lẽ các Bà-la-môn thâm độc lại không dám giả quy y, giả cạo đầu đắp y? Họ không dám tráo Kinh Luật thật bằng tam tạng giả để xúi dại con Phật quay lại coi thường chánh Phật pháp, xem khinh Thánh Tăng A La Hán hay sao mà cứ tin bừa?
Như đã nói ở trên, trong Kinh - Luật gốc còn ghi lại muôn vàn những thủ đoạn thâm độc của các Bà-la-môn chống phá Tam Bảo, không lẽ sau khi Phật nhập Niết Bàn họ sẽ ăn năn hối cải, từ bỏ tất cả?
Rõ ràng chỉ có ngây thơ mới không biết những điều trên để cảnh giác trước tam tạng mới. Và cũng chỉ có quá cả tin mê tín mới nghe sao tin vậy để rồi rơi vào bẫy của ác ma.
Mong rằng những ai còn tin tam tạng Đại Thừa hãy nhớ tới con cáo tinh ma biết giả giọng người khác trong câu truyện ‘Cô Bé Quàng Khăn Đỏ’, hãy nhớ tới món quà con ngựa gỗ trong câu chuyện thành Troy, hãy nhớ tới Triệu Đà - Trọng Thuỷ và kế sách gián điệp tráo Nỏ Thần thật bằng nỏ thần giả mới phá tan thành trì kẻ khác.
Các Bụt tử Đại Thừa có cảnh giác như vậy mới mong nhận thức rõ sự tà vạy của các kinh - luật - luận ngụy tạo của các Bà-la-môn gián điệp, để trở về lại với Chánh Kinh Chánh Đạo Nguyên Thuỷ của chính Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni. Được vậy các con Phật mới tự cứu lấy chính mình và cứu những người thân của mình. Mọi người phải luôn ghi nhớ: kẻ ôm tà kiến chỉ có hai sanh thú, địa ngục hoặc súc sanh.
TẬP SAN LUẬT HỌC

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2017

THƯỜNG, LẠC, NGÃ, ...TÉ

Một nhóm cư sĩ đang ngồi nói chuyện với nhau trong sân chùa. Cư sĩ Độ Tinh hào hứng tiếp thị chào hàng:
_ Này các ông, có một luận sư Đại Thừa thuyết về bốn tánh Thường - Lạc - Ngã - Tịnh ở cõi Tây Phương Cực Lạc nghe rất mê.
Một cư sĩ khác:
_ Tui nghe nói trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Đại thừa lập đi lập lại câu “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Phật tánh ấy là Thường - Lạc - Ngã - Tịnh”
Cư sĩ Khắc Tinh nhíu mày:
_ Ủa, lạ vậy, tôi nhớ Đức Phật Thích Ca trong kinh Nguyên Thủy dạy chúng ta phải luôn quán niệm bốn tánh là Vô Thường - Khổ - Vô Ngã và Bất Tịnhkia mà?
Cư sĩ Cứu Tinh nhìn xa xăm:
_ Chúng sanh là ai? Chẳng lẽ heo - bò - dê - gà - ngạ quỷ cũng có Phật tánh à? Và chúng cũng thường - lạc - ngã - tịnh à? Những ai tin chúng sanh đồng Phật tánh, họ đã tự đồng hóa mình với các súc sanh ngạ quỷ và hủy báng Phật.
Cư sĩ Chánh Pháp tiếp lời:
_ Ngay thời Phật đã có biết bao kẻ mạo danh Phật, xuyên tạc Pháp Phật, đánh lừa con Phật. Vậy mà mọi người cứ vô tư tin tất cả những “Như vầy tôi nghe” sau này và những ông luận sư gốc Bà-la-môn. Gánh tà kiến là địa ngục khổ đau đấy. Mọi người hãy coi chừng!
Cư sĩ Khắc Tinh đồng tình:
_ Đúng vậy, khi Phật còn hiện tiền đã có các ông Bà-la-môn cố chấp luôn nói trái ngược lời Phật để phá hoại Phật pháp. Trong Tương Ưng còn ghi rõ: “Bà-la-môn Paccaniikasàta suy nghĩ như sau: "Ta hãy đi đến Sa-môn Gotama, và Sa-môn Gotama có nói điều gì, ta sẽ nói lời phản ngược lại" (S.i,179). Sau này con cháu của họ vẫn nối tiếp truyền thống đó, ngụy tạo kinh luận giả, nói toàn điều trái ngược với chánh kinh Nikaya và luật Patimokkha cấp 1.
Cư sĩ Cứu Tinh phụ họa:
_ Chuyện thường-lạc-ngã-tịnh có hay không, sai hay đúng, hãy để những người ở cõi Tây phương hoặc chúng sanh ngạ quỷ xem xét đánh giá. Còn chúng ta ở cõi Ta Bà này hãy ghi nhớ và tư duy kỹ lời dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Chính Ngài đã gọi đó là bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
Cả nhóm nhao nhao hỏi dồn:
_ Ông nói thật không? Chứng minh?
_ Đây, các vị hãy chú tâm lắng nghe tôi đọc nguyên văn.
Nói xong Cư sĩ Cứu Tinh mở Tăng Chi tập 1, bài kinh “Tưởng Điên Đảo”,trang 650, đọc lớn:
“Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảonày. Thế nào là bốn? Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Này các Tỷ-kheo có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này.
Này các Tỷ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo nàyThế nào là bốn? Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong khổ, nghĩ là khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này”.
Cả nhóm cư sĩ chắp tay kính cẩn tín thành lời Phật dạy. Gấp cuốn kinh lại, cư sĩ Cứu Tinh hỏi các đồng đạo:
_ Này các ông, những lý luận xa rời thực tế hướng đến ảo tưởng, điên đảo, viễn vông, người trí gọi nó là gì?
Cả nhóm đồng thanh:
_ Là hý luận chứ còn gì nữa!
Một cư sĩ khác thắc mắc:
_ Có những kẻ phá hoại Chánh Pháp đến như vậy, tại sao Phật là đấng Chánh Biến Tri lại không cảnh giác cho các đệ tử?
Cư sĩ Cứu Tinh nói ngay:
_ Này huynh, chớ có nói như vậy! Ngay từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, Đức Thế Tôn đã tiên tri rõ ràng rồi, nhưng vì nhiều người tà tín tin theo gián điệp nên không biết đó thôi!
Mọi người lại nhao nhao:
_ Thế à! Ngài tiên tri thế nào?
Cư sĩ Cứu Tinh mở Tăng Chi tập 1, chương 1, trang 71 đọc chậm rãi rõ ràng từng chữ:
_ “một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Người có tà kiến, người có điên đảo kiến. Người ấy làm cho đông người xa lìa Diệu Pháp, an trú phi pháp. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người”.
Thấy cư sĩ Cứu Tinh im lặng, người ngồi kế bên nhắc:
_ Sao ông không đọc luôn đoạn kế tiếp.
Cư sĩ Cứu Tinh hướng vào trong chùa bái vọng rồi trang nghiêm đọc lớn:
“Có một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa đến hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa đến hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Người có Chánh Kiến, người không có điên đảo kiến. Người ấy làm cho đông người xa lìa phi pháp, an trú Diệu Pháp. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa đến hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa đến hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người”.
Mọi người đều hoan hỷ tín thọ lời cư sĩ Cứu Tinh và cùng nhau niệm lớn “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Trong khi đó cư sĩ Độ Tinh vẫn cúi đầu im lặng, hai tay mân mê xâu chuỗi như ra vẻ đang mải mê trầm tư suy nghĩ.
SƯ CỨU TINH
_________________
Ghi chú:  
1. “Này các Tỷ-kheo, có sáu trường hợp không thể xảy ra. Thế nào là sáu? Người đầy đủ tri kiến không thể chấp nhận bất cứ hành nào là thường còn; người đầy đủ tri kiến không thể chấp nhận bất cứ hành nào là lạc; người đầy đủ tri kiến không thể chấp nhận bất cứ hành nào là ngã; người đầy đủ tri kiến không thể làm hành động vô gián; người đầy đủ tri kiến không thể làm cho thanh tịnh với những lễ nghi đặc biệt; người đầy đủ tri kiến không thể đi tìm các vị đáng được cúng dường ngoài chư Tăng. Này các Tỷ-kheo, đây là sáu trường hợp không thể xảy ra” (Bài kinh “Hành” số 93, Tăng chi 3, chương 6, phẩm Mát Lạnh)
2. Đây là lý do các luận sư Đại Thừa gốc Bà La Môn thuyết trái ngược Phật Thích Ca về thường - lạc - ngã - tịnh:
“Thật vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nào thấy bất cứ hành nào là thường còn, sẽ thành tựu được nhẫn nhục tùy thuận, sự kiện này không xảy ra. Không thành tựu nhẫn nhục tùy thuận, sẽ nhập vào chánh tánh quyết định, sự kiện này không thể xảy ra. Không nhập vào chánh tánh quyết định, sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hay quả Nhất Lai, hay quả Bất Lai, hay quả A-la-hán, sự kiện này không xảy ra.
Thật vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào thấy bất cứ hành nào là vô thường, sẽ thành tựu được nhẫn nhục tùy thuận, sự kiện này có xảy ra. Thành tựu nhẫn nhục tùy thuận, sẽ nhập vào chánh tánh quyết định, sự kiện này có xảy ra. Nhập vào chánh tánh quyết định, sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, hay quả A-la-hán, sự kiện này có xảy ra(Bài kinh “Vô Thường” số 98, Tăng chi 3, chương 6, Phẩm Lợi Ích).
3. “Thế Tôn nói như sau: -- Một thời, này các Tỷ-kheo, Ta ở tại Ukkattha trong rừng Subhagavana, dưới gốc cây Tala vương. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau: "Cái này là thường, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này, không có một giải thoát nào khác hơn".  
...Ta nói với Phạm thiên Baka: "-- Thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh, thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh, khi cái vô thường lại nói là thường, cái không thường hằng lại nói là thường hằng, cái không thường tại lại nói là thường tại, cái không toàn diện lại nói là toàn diện, cái bị biến hoại lại nói là không biến hoại, và tại chỗ có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi; có một giải thoát khác hơn lại nói là không có một giải thoát nào khác hơn." (Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh, số 49, Trung Bộ 1)
Theo những dẫn chứng trên rõ ràng sự “giải thoát khác hơn” tức thường-lạc-ngã-tịnh của luận sư Bà-la-môn lại cũng chính là ác tà kiến vô minh của Phạm thiên Baka, vị trời tối cao của Bà-la-môn giáo và cũng là Bồ-tát Quán Tự Tại của Đại giáo thừa. Những ai có đầy đủ Chánh Tri Kiến có còn tụng niệm Bát Nhã Kinh Tâm của các tổ sư gián điệp gốc Bà La Môn không?