Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

PHẢN BÁC "BÁT NHÃ KINH TÂM" CỦA ĐẠI THỪA BÀ LA MÔN



“BÁC” nhã tâm kinh
(Bản chính gốc ghi lời tiên tri của Đại Vương Vessavana, do Chư Thiên Abhihū gìn giữ, khi đúng thời mới phổ biến)
Bát nhã kinh tâm
(Bản ngụy tạo do các luận sư Bà-la-môn gián điệp chế tác nhằm phá hoại Chánh Phật Pháp)
“Bồ-tát Quán Tự Tại hành dân Bát nhã đến mửa mật ra, thời chiếu kiến ngũ uẩn sai. Không độ thoát hết thẩy khổ ách.
Phá Luật Tử! Sắc chẳng khác hông, lông chẳng khác sắc. Sắc cũng là môn, móng cũng là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức chẳng phải như thế. Phá Luật Tử! Thực chánh pháp không phân: bất Mật, bất Liên, bất Thiền, bất Tịnh, bất Nam, bất Bắc.
Thực chánh đạo không Thọ, không Trước, Mã, Thân, Cưu. Không Vạn, không Lặc, Thế, Thiên, Tạng; không Đạt, Khả, Năng, Trượng, Khải. Không Cật - Liên cho đến cả không Già - Nghiêm; không Duyên giả, không Tát quả cho đến cả không Thống, Hoà, Lạt vị.
Vốn chánh trí không Tông, không Phái; không chia, không rẽ. Tăng Ni y cứ Tam-Thập-Thất, tâm không chao đảo, tuệ không điên đảo, xa rời ma chướng, cứu cánh thiết thực Niết Bàn. Vô lượng đời chư Tăng Ni y cứ Ba-Mươi-Bẩy thắng pháp hỗ trợ, thoát ly đau khổ.
Chánh tri Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng cùng Giới-Định-Tuệ và Ba-Mươi-Bẩy là đại thần cú, là đại minh cú, là vô thượng cú, là vô đẳng đẳng cú, giải trừ nhứt thiết khổ, chân thật không hư ngụy. Tu Ba-Mươi-Bẩy cùng với tứ hội chúng đó là: Tứ Đế Tứ Đế, ba thời tu Tứ Đế; Tăng-Ni-cư sĩ tu Tứ Đế, Bồ-đề thoát là đây.”
"Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị". "Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”.
Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”

***

Li ca Thiên N Kālī
Kālī vốn là vị nữ cư sĩ thời Phật, sống ở Kulagharikā và có lòng tịnh tín đệ nhất, không bị lung lạc bởi những lời đồn nhảm
Này Bồ-tát Quán Tự Tại và các luận sư gián điệp nằm vùng! Thực ra không có chuyện đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú “yết đế yết đế” giải trừ nhứt thiết khổ. Ngược lại, đó chỉ là hệ quả của mê loạn do quả khổ dị thục mang lại.
Vì sao? Vì chính Đức Thế Tôn đã dạy rõ trong bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch”, Tăng Chi tập 3, chương 6, trang 220. Thực vậy, những ai tin theo Bồ-tát Quán Tự Tại hãy lắng nghe và khéo tác ý lời Phật thuyết còn ghi rõ rành rành như vầy:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ dị thục? Này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú để đoạn diệt khổ này.
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khổ dị thục”.
Lại nữa, này Bồ-tát Quán Tự Tại và các luận sư gốc Bà-la-môn gián điệp nằm vùng, cái gì của ác ma hãy trả về cho ác ma.
Hãy lấy lại các câu thần chú trả về cho tổ tiên và con cháu của các người, cho những kẻ mù loà cứ việc ôm lưng nhau bước qua bến bờ ảo vọng với những đức tin không có căn cứ!
Hãy chấm dứt sự xuyên tạc, giả danh Đức Phật để du nhập vào đạo Phật những điều ngớ ngẩn, khờ dại, không thiết thực hiện tại!
Vì sao? Vì từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước Bậc Thầy Trời Người đã chỉ rõ xuất xứ của các câu thần chú cùng những đức tin mù quáng vô căn cứ chính là từ các tổ sư Bà-la-môn của Bà-la-môn giáo. Nguyên văn Phật dạy thế này: Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú và nay, những Bà-la-môn hiện tại cũng đã hát lên, nói lên giống như các vị trước đã làm…
Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy.
Này Bharadvaja, Ông nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, có phải lòng tin của các vị Bà-la-môn trở thành không có căn cứ?” (Trích Kinh Canki, số 95, Trung Bộ II. Những ai quan tâm khỏi mất công tìm kiếm bài kinh này trong các kinh A Hàm vì nó đã bị các ông gián điệp lược bỏ để dọn đường đưa tà pháp niệm chú của Bà-la-môn giáo vào Đại Thừa giáo từ lâu rồi!)
Lại nữa, này Bồ-tát Quán Tự Tại và các luận sư gốc Bà-la-môn gián điệp nằm vùng, các vị phải biết rằng sự thực không có chuyện nhảm nhí ba đời chư Phật phải nương vào pháp Ba-la-mật với các câu thần chú ngớ ngẩn của các người.
Trái lại thần chú “yết đế” chỉ là điểm tựa, là chỗ nương dựa cho những kẻ yếu bóng vía với xu hướng tế lễ nô lệ cho thần quyền theo đúng như điều Đức Thế Tôn đã chỉ dạy trong Kinh Tăng Chi tập 3, Chương 6, Phẩm Dhamika, trang 138:
“Ðối với Bà-la-môn, này Bà-la-môn, tài sản là mong muốn, trí tuệ là cận hành, chú thuật là điểm tựa, tế tự là xu hướng, cứu cánh là Phạm thiên giới”.
Do vậy, người đệ tử chân chánh của đạo Phật chỉ có lấy giới luật làm điểm tựa chứ không nương tựa vào một đức tin mù quáng, phi lý: “Ðối với Sa-môn, này Bà-la-môn, nhẫn nhục nhu hòa là mong muốn, trí tuệ là cận hành, giới hạnh là điểm tựa, không có sở hữu là xu hướng, Niết-bàn là cứu cánh” (Sđd)
Cho dù các ông và những kẻ tin theo có lập đàn tế lễ cúng bái rình rang cả trăm năm chăng nữa, Đức Thế Tôn cũng chẳng thèm chứng minh cho các người. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước Ngài đã nhiều lần khẳng định:
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chân thật niệm Chánh pháp…” 
(S.i,166), (S.i,167) & (S.i,172)
Này Bồ-tát Quán Tự Tại và các luận sư gốc Bà-la-môn gián điệp nằm vùng, chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khuyến cáo rõ ràng các đệ tử của Ngài phải vất bỏ các bùa chú theo kinh điển Vệ Đà cùng các hành vi mê tín khác của Bà-la-môn giáo:
927. Chớ có dùng bùa chú,
A-thar-va Vệ-đà,
Chớ tổ chức đoán mộng,
Coi tướng và xem sao,
Mong rằng đệ tử Ta,
Không đoán tiếng thú kêu,
Không chữa bệnh không sanh
Không hành nghề lang băm (Sn 179)
Không còn nghi ngờ gì nữa ở đây khi chính Đấng Chánh Biến Tri đã khẳng định rõ việc dùng bùa chú đi tới giác ngộ vốn là phương pháp của ngoại đạo: “Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo sư tên là Araka thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Araka có đến hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Araka thuyết pháp cho các đệ tử như sau: "Này Bà-la-môn, ít oi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử.
Ví như, này Bà-la-môn, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài…  Ví như, này Bà-la-môn, khi trời mưa nặng hạt, bong bóng nước trên nước mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như bong bóng nước là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử…
Nay, này các Tỷ-kheo, ai nói một cách chơn chánh, phải nói như sau: "Ít oi, là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí tuệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, hãy sống Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử”  (Tăng Chi tập 3, Chương 7, Đại Phẩm, bài kinh Araka, trang 473).
Chính vì thế, này Bồ-tát Quán Tự Tại và các luận sư con cháu của đạo sư Araka ngoại đạo, các vị cứ việc lấy bùa chú “yết đế yết đế” làm phương tiện để đi tới giác ngộ cái “Bát nhã ba la mửa” của các vị, hãy để yên cho những người con Phật chân chính, những người biết vâng theo lời Phật dạy, lấy trí tuệ làm hành trang đi tới giải thoát.
Từ nay những người con Phật có Chánh tri kiến sẽ noi gương Phật và các vị Thánh Tăng A-la-hán, thẳng tay quăng bỏ các câu chú thuật như quăng bỏ chiếc dép cũ nát. Cho dù con cháu của họ có tức giận và không vui như tổ tiên của họ đã làm đối với các đệ tử thực sự của Đức Phật:
“Rồi các thanh niên ấy, tức giận và không vui, đi đến Bà-la-môn Lohicca; sau khi đến, thưa với Bà-la-môn Lohicca: -- Mong Tôn giả biết rằng, Sa-môn Mahā Kaccāna đang một mạch chỉ trích và mạ lị thần chú của các Bà-la-môn” (S.iv,116).
Tóm lại, với các dẫn chứng trên, thật dễ hiểu vì sao trong toàn bộ kinh tạng Nguyên thuỷ Nikāya với hàng ngàn bài kinh, hàng vạn trang giấy nhưng không hề có bất kỳ một câu thần chú vô nghĩa lý nào. Trong khi đó các kinh A-hàm và kinh Đại Thừa thì đầy dẫy pháp môn này.
Tin lời Phật Thích Ca trong kinh điển gốc Nikāya - đó là niềm tin căn cứ trên tinh thần khách quan khoa học của những Phật tử có trí tuệ sáng suốt. Trái lại tin vào những hý luận hoa mỹ, các chú thuật vô nghĩa lý của các tổ sư gốc Bà-la-môn gián điệp nằm vùng du nhập tà pháp vào Đạo Phật, đây là hậu quả của mê loạn, là kết quả kiếm tìm vì quả khổ dị thục.
Hỡi những người con chân chính của Đức Phật, đã đến lúc những gì thực sự của Đạo Phật phải trả về cho Đạo Phật, những gì của Bà-la-môn giáo phải trả về cho Bà-la-môn giáo.
Thiên Nữ Kālī, ở Kulagharikā
]]]

Chú Gii “BÁC Nhã Tâm Kinh”
ca Chư Thiên Abhihū

-- BÁC nhã tâm kinhBác bỏ Tâm kinh Bát nhã của Đại Thừa.
-- Dân Bát Nhã: Những người tin theo Bát-nhã-tâm-thần-kinh.
-- Phá Luật Tử: Những kẻ phá giới bẻ luật nên không còn trí tuệ để phân biệt kinh thật, kinh giả. 
-- MônCửu khiếu như nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn...
-- MóngMóng tay, móng chân
-- Thực chánh pháp không phân: bất Mật, bất Liên, bất Thiền, bất Tịnh, bất Nam, bất Bắc: Chánh Phật Pháp trước sau như một, y như thời Đức Phật còn hiện tiền, không bị phân hóa chia rẽ bởi các tổ sư Bà-la-môn gián điệp thành các tông phái như Mật Tông, Liên Hoa Tông, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Nam Tông hay Bắc Tông.
-- Thực chánh đạo không Thọ, không Trước, Mã, Thân, CưuThực ra trong chánh đạo Phật không có Long Thọ, Vô Trước, Mã Minh, Thế Thân, Cưu Ma La Thập… Những luận sư gốc Bà-la-môn này đều là những gián điệp nguy hiểm phá hoại Phật Pháp một các tinh vi, xảo quyệt ngay từ bên trong.
Nếu các luận sư Bà-la-môn này đứng ngoài đạo Phật kêu gào phân chia Phật Pháp thành tám muôn bốn ngàn mảnh và phủ nhận “vô Khổ - Tập - Diệt - Đạo”, thử hỏi có người Phật tử nào chịu nghe họ?
Dĩ nhiên chỉ có những ai có giới thanh tịnh, có tâm thanh tịnh, từ đó có tri kiến thanh tịnh để biết đâu là đạo, đâu là phi đạo mới nhìn ra những sự phá hoại này, mới dám lên tiếng trước những bóng ma “Bồ-tát” này.
-- Không Vạn, không Lặc, Thế, Thiên, TạngKhông có vạn Phật, Di Lặc Phật (phanh ngực, hở bụng, lòi rốn), Di Đà Tam Thế, Thiên Thủ Thiên Nhãn, Địa Tạng... các “Bụt” giả này đều do các luận sư Bà-la-môn gián điệp vẽ ra để phân hóa Phật giáo.
Thật vậy theo Kinh Đa Giới, số 115, Trung Bộ 3: “Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể đề cao một Đạo sư khác. Sự kiện như vậy không có xảy ra”.
Và vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phuđề cao một Đạo sư khác. Sự kiện như vậy có xảy ra".
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi cùng trong một thế giới (lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có thể xuất hiện (một lần) không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”.
Và vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, một A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra…
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác. Sự kiện như vậy không có xảy ra”?
Lại nữa, Kinh Tăng Chi 1, Chương 1, XIII. “PHẨM MỘT NGƯỜI”, trang 47: “Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.
Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.”
Chính vì thế, trong cùng một thế giới của kiếp trái đất này, những người có chánh kiến chỉ tôn thờ một và duy nhất một đạo sư là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà thôi!
Ngược lại, những kẻ tà kiến nham hiểm muốn phá hoại tính chất vô song này, chúng thừa sức vẽ ra ngàn ức Phật nhằm tầm thường hóa danh hiệu hy hữu này, để rồi lập lờ phỉ báng một cách thâm độc “Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn” (Kinh 42 Chương của Đại Thừa).
-- Không Đạt, Khả, Năng, Trượng, KhảiKhông Đạt Ma Sư Tổ, Huệ Khả, Bách Trượng, Trí Khải… các tổ sư Đại Thừa Bà-la-môn giáo do các “Đại Bồ-tát gián điệp Bà-la-môn” đào tạo.
-- Không Cật-Liên cho đến cả không Già-NghiêmKhông cần có các kinh ngụy tạo như Duy Ma Cật, Diệu Pháp Liên Hoa, Lăng Già, Lăng Nghiêm…cùng các kinh Đại Thừa khác sau này, tất cả đều do các gián điệp đưa vào để phá hoại Phật Pháp.
-- Không Duyên giả, không Tát quả cho đến cả không Thống, Hoà, Lạt vịKhông có các đạo vị Duyên Giác, quả vị Bồ-tát Đại Thừa; danh vị Tăng Thống, Hoà Thượng, Lạt Ma… những danh xưng tối thượng, những địa vị kỳ cựu này do các luận sư gốc Bà-la-môn cải biến thêm vào để những người con Phật háo danh ganh đua hơn thua với nhau.
Và đây là chứng minh: Này Bhaddali, ở đây, khi nào Tăng chúng chưa đạt được quyền lợi tối thượng... chưa đạt được danh xưng tối thượng... chưa đạt được đa văn... chưa đạt được địa vị kỳ cựu, khi ấy một số hữu lậu pháp chưa hiện khởi trong Tăng chúng.
Và này Bhaddali, ở đây, chỉ khi nào Tăng chúng đã đạt được địa vị kỳ cựu, thời ở đây một số hữu lậu pháp hiện khởi trong Tăng chúng, khi ấy bậc Ðạo Sư mới chế định học giới cho các đệ tử để đối trị lại các pháp hữu lậu ấy” (Trích kinh Bhaddàli, số 65, Trung Bộ 2)
-- Tam-Thập-Thất, Ba-Mươi-Bẩy37 Phẩm Trợ Đạo gồm Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Bốn Niệm Xứ, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi và Bát Chánh Đạo.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn có nhiều châu báu, ở đấy có những châu báu này, như trân châu, ma-ni châu, lưu-ly, xà-cừ, ngọc bích, san-hô, bạc, vàng, ngọc đỏ, mã-não.
Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Pháp và Luật này có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đấy có những loại châu báu này, như Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, Thánh Đạo Tám Ngành.
Này các Tỷ-kheo, vì rằng Pháp và Luật này có nhiều châu báu này như Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, Thánh Đạo Tám Ngành. Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là vi diệu chưa từng có thứ bảy. Do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này” (Ud 51)
“Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-kheo sống không chí tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn như sau: "Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!" Tuy vậy, tâm của vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.
Vì sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì?
Không có tu tập Bốn Niệm Xứ. Không có tu tập Bốn Chánh Cần. Không có tu tập Bốn Như Ý Túc. Không có tu tập Năm Căn. Không có tu tập Năm Lực. Không có tu tập Bảy Giác Chi. Không có tu tập Thánh Đạo Tám Ngành” (S.iii,152)
-- Tứ hội chúngBốn hội chúng đệ tử Phật gồm: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Nam cư sĩ và Nữ cư sĩ.
-- Tứ ĐếTứ Diệu Đế gồm Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế.
Kinh Tăng Chi I, trang 136: “Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng không phải Thánh và hội chúng bậc Thánh.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng không phải Thánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"; không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ Tập"; không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ Diệt"; không như thật rõ biết: "Ðây là Con Đường đưa đến Khổ Diệt". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng không phải Thánh.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng bậc Thánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"; như thật rõ biết: "Ðây là Khổ Tập"; như thật rõ biết: "Ðây là Khổ Diệt"; như thật rõ biết: "Ðây là Con Đường đưa đến Khổ Diệt". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng bậc Thánh.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức là hội chúng bậc Thánh.”

]]]


Li Nhn Nh Ca
Đại Phm Thiên Sahampatti

Những ai thọ trì, tụng đọc “Bác Nhã Tâm Kinh” của Đại Vương Vessavana thời sẽ đạt được nhiều an vui hạnh phúc không những cho bản thân mà còn cho những người thân yêu.
Càng tích cực phổ biến, giới thiệu bản Thánh tri này cho nhiều người, càng có nhiều công đức bất khả tư nghì do đã bố thí đúng chánh pháp, hộ trì đúng Phật pháp.
Ngược lại những ai tin vào “Bát Nhã Tâm Kinh” hãy tự hỏi lại chính mình sẽ thấy rõ: có phải từ khi họ đọc tụng “kinh” giả này họ đã bị nhiều tai ương, khổ đau, ách nạn cho mình và gia đình không?
 Đó là do quả báo nhãn tiền, họ phải trả giá đắt do vô minh tà tín tin vào các gián điệp, tay sai của ác ma, quay lại xúc phạm Thánh nhân, phá bỏ Phật pháp chánh truyền.
Nếu họ không biết sám hối, cải tà quy chánh, từ bỏ các “kinh” bịa đặt; thời họ không thể chấm dứt khổ đau ngay trong hiện tại, không những thế họ còn bị đọa vào địa ngục A-tỳ trong tương lai lâu dài.
]
Ai hiểu được ý nghĩa đoạn kinh dưới đây sẽ biết vì sao các luận sư gốc Bà-la-môn đem pháp Ba-la-mật “bất sanh, bất diệt” vào trong đạo Phật, và vu khống ba đời chư Bụt còn phải “nương theo”:

“29. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Kūtadanta, Pokkharasādi… như là thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly.

Khi Đức Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Kūtadanta đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy chính chỗ ngồi này pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Kūtadanta: "Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt" (Xem Kinh Kūtadanta và Kinh Ambattha, Trường Bộ 1)

]
PHÁP TRÍCH LỤC
"Thấy Khổ và Khổ Tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh Tám Ngành,
Ðưa đến khổ não tận." (PC 191)
{ Thừa tự Pháp trích lục
Tụng vô Khổ, vô Tập,
Niệm “yết đế” tàn hơi,
Bỏ lơ Thánh Tám Ngành,
Ðưa đến khổ vô tận
+ Ai nói các Tỳ-kheo Thanh Văn Tiểu Thừa là nhị thừa chấp có, chấp không hãy đọc kỹ đoạn kinh Tôn giả A-nan dạy cho Channa sau đây:
“-- Này Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo giới này cho Kaccānaghotta: "Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccāna, hiện hữu và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi của thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu! Nhưng này Kaccāna, ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt của thế giới, thì cũng không chấp nhận là thế giới có hiện hữu.
Thế giới này phần lớn, này Kaccāna, là chấp thủ các phương tiện và bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp thủ, không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú vào thiên kiến tùy miên, vị ấy không nói: 'Ðây là tự ngã của tôi". Với ai nghĩ rằng: 'Cái gì khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’, vị ấy không có phân vân, nghi hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác. Cho đến như vậy, này Kaccāna, là chánh trí".
"'Tất cả đều có’, này Kaccāna, là một cực đoan. 'Tất cả đều không có’ là một cực đoan. Không chấp nhận hai cực đoan ấy, này Kaccāna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do duyên vô minh, nên hành khởi. Do duyên hành, nên thức khởi... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn nên các hành diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này" (S.iii,132)
{ Thừa tự Pháp trích lục
Thế nhưng Bà-la-môn giáo phát triển sau này vẫn rơi vào cực đoan thứ hai, thi nhau tụng niệm “tất cả pháp đều không”. Khốn thay người ta lại gán nó vào ‘kim khẩu’ của Thế Tôn của Phật giáo Đại thừa để từ đây tiến đến phủ định sạch trơn tất cả.
Trích nguyên văn một đoạn trong ‘kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa’: “Như Lai nói: “sắc không, thọ tưởng hành thức cũng không…; nhãn xứ không… pháp xứ cũng không; Như Lai nói nhãn giới không… pháp giới cũng không;… nhân duyên tánh không, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên không… hữu sắc pháp không vô sắc pháp không, hữu kiến vô kiến pháp không, hữu đối vô đối pháp không, hữu lấu vô lấu không, hữu vi vô vi không; Như Lai nói quá khứ vị lai hiện tại pháp không, ta nói rằng, tất cả pháp đều không…”. (Nguồn: tuechung.net/phapluan/30tutuongkhong.html).
Tất cả pháp đều không, thế nhưng lại có cái pháp Ba-la-mật mà đến ba đời chư Phật còn phải nương theo!!! Gọi Đại thừa (thãi) là vậy!
Tương Ưng Bộ, S.ii,104: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh Đạo Tám Ngành, tức là Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Tám Chánh Đạo trong đó Chánh Tinh Tấn là Bốn Chánh Cần, Chánh Niệm là Bốn Niệm Xứ, Chánh Định là Bốn Thiền Bốn Thánh Định, là con đường cũ mà tất cả các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đều đã đi qua và chứng đắc.
Thế nhưng đến Bát Nhã kinh tâm của Đại Thừa giáo do các tổ sư gốc Bà-la-môn kết tập và xiển dương thì xổ toẹt tất cả “vô Khổ - Tập - Diệt - Đạo, vô chứng diệc vô đắc” mà chỉ có Bát-nhã-ba-la-mật mà ba đời chư Phật phải nương theo!!!
Ô hô ai tai! Người tin theo các tổ sư gốc Bà-la-môn là ai? Là con Phật Thích Ca Mâu Ni hay con các tổ sư gốc Bà-la-môn? Họ tu theo đúng Tám Chánh Đạo hay tu theo pháp môn lai tạp của Bà-la-môn giáo???
34.IV. Ðến Bờ Bên Kia (S.v,25)
1-2) Tại Sāvatthi...
3) -- Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia (apārāpa ramgamanāya). Thế nào là tám? Tức là Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.
4) Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
1) Ít thay là những người,
Ðạt đến bờ bên kia.
Phần lớn quần chúng khác,
Chạy qua lại bờ này.

2) Những ai theo thuyết giảng,
Chánh pháp khéo tuyên thuyết,
Họ đến bờ bên kia,
Khéo vượt cảnh giới Ma.

3) Ðoạn tận các hắc pháp,
Bậc trí tu bạch pháp,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Trong độc cư, khó lạc.

4) Ở đây, muốn hưởng lạc,
Hãy bỏ mọi dục vọng,
Bậc trí tự thanh lọc,
Tự tâm khỏi phiền não.

5) Những ai khéo tu tập,
Chánh tâm trong Giác chi,
Từ bỏ các chấp trước,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Lậu hoặc tận, chói sáng,
Ðạt tịch tịnh ở đời.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Trong Đại giáo thừa có một pháp môn qua hàng ngàn năm được nhiều người tin tưởng và tụng niệm vì tin rằng nó sẽ giúp giải thoát. Đó là pháp trì chú trong Bát Nhã Tâm Kinh do Bồ-tát Quán Tự Tại rao truyền,không khác gì phép niệm chú của các Bà-la-môn thời xưa, Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”. Có người dịch “Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!”
Những ai còn phân vân thắc mắc xin mời đọc Phật Học Hoài Nghi phần Thần Chú Đại Thừa Bà-la-môn sẽ rõ. Ở đây Thừa tự Pháp xin phép phát biểu ý kiến cá nhân dựa theo đoạn chánh Kinh “Đến Bờ Bên Kia” của Phật.
Ít thay là những người. Biết được Chơn Diệu Pháp. Phần lớn quần chúng khác. Chạy theo tà ngụy kinh.
Những ai theo đúng Pháp. Chân Phật Pháp chánh truyền. Họ đến bờ giải thoát. Khéo vượt cảnh giới Ma.
Ðoạn tận các tà pháp. Bậc trí tu đúng pháp, Bỏ nhà, sống không nhà. Trong độc cư, thiền định.
Ở đây, muốn hưởng lạc. Hãy bỏ mọi tà kinh. Bậc trí tự thanh lọc. Tự tâm khỏi ngụy pháp.
Những ai khéo tu tập. Chánh tâm trong Chánh Pháp. Từ bỏ các tà vạy. Hoan hỷ không chấp thủ. Tà kiến tận, chói sáng. Ðạt giải thoát ở đời.
16. VI. Thọ Trì (2) (S.v,427)
1) ...
2-3) ... (giống như đoạn số 2-3 của kinh trên)
4) -- Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh Đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Khổ này được Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh Đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ ấy là Thánh Đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh Đế thứ nhất". Sự kiện như vậy không xảy ra.
5-6) Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ Tập là Thánh Đế thứ hai... Khổ Diệt là Thánh Đế thứ ba.... không xẩy ra.
7) Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt là Thánh Đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt này, được Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh Đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt ấy là Thánh Đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt khác là Thánh Đế thứ tư". Sự kiện này không xẩy ra.
8) Bạch Thế Tôn, như vậy con thọ trì bốn Thánh Đế do Thế Tôn thuyết giảng.
9) -- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh Đế do Ta thuyết giảng. Khổ, này Tỷ-kheo, là Thánh Đế thứ nhất, do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Khổ này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh Đế thứ nhất. Tôi bác bỏ Khổ này là Thánh Đế thứ nhất. Tôi sẽ tuyên bố một Khổ khác là Thánh Đế thứ nhất". Sự kiện như vậy không xảy ra...
"Khổ Diệt Thánh Đế... Con đường đưa đến Khổ Diệt". Này Tỷ-kheo, là Thánh Đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt này do Sa-môn Gotama thuyết giảng không phải là Thánh Đế thứ tư. Tôi bác bỏ Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt này là Thánh Đế thứ tư. Tôi sẽ tuyên bố một Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt khác là Thánh Đế thứ tư". Sự kiện như vậy không xẩy ra.
10) Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì như vậy Bốn Thánh Đế do Ta thuyết giảng. Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... "Ðây là Khổ Tập"... "Ðây là Khổ Diệt"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường Đưa Đến Khổ Diệt".
{ Thừa tự Pháp trích lục
Khổ thật! Bởi Đức Thế Tôn đã dạy Bốn Thánh Đế là Diệu Pháp bậc Thánh, thế nhưng trong bài kinh Tương Ưng tập 2, trang 386: “Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm Diệu pháp biến mất
Ngu thật! Bởi, chỉ có ác ngu si mới cải biên Thánh Pháp thành “thường pháp”, Diệu Pháp thành “Tiểu pháp” và cũng vì thậm ngu si mới tin theo ác ngu si ấy, phủ nhận sạch trơn tất cả bằng những hý luận trườn uốn như lươn.
Nguyên nhân của khổ này cũng chỉ vì vô minh tin lầm tà nhân, ái luyến lầm tà pháp để rồi gặt lấy hậu quả tà kiến.
Khốn khổ thay, như Đức Phật đã dạy kẻ mang tà kiến chỉ có hai sanh thú: địa ngục hoặc súc sanh. Đây mới thực là khổ - khổ.
Trích Kinh Phân Biệt Về Sự thật, số 141, Trung Bộ 3
“Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở Bārānasi (Ba-la-nại), Isipatana (chỗ chư Tiên đọa), tại Migadaya (Lộc Uyển).
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- "Này các Tỷ-kheo".
-- "Bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
-- Vô thượng Pháp luân đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển vận ở vườn Lộc Uyển, chỗ chư Tiên đọa, tại Ba-la-nại. Không một Sa-môn, Bà-là-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chận đứng, chuyển vận ngược lại, tức là sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ Bốn Thánh-đế…”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Bạch Đức Thế Tôn, Vô thượng Pháp luân Ngài dạy là như vậy, thế nhưng những kẻ đời sau không vâng chính lời Ngài. Trái lại họ lại đi tin theo tà nhân, tà đạo cho nên Diệu Pháp chỉ tồn tại có năm trăm năm, hoàn toàn đúng với sự tiên tri của Ngài!
Chính Ngài đã dạy Tín Căn phải có Tuệ Căn đi kèm, lòng tin phải có trí tuệ suy tư thẩm sát. Thế nhưng người đời sau dù rất tin Ngài nhưng thơ ngây đi kèm cho nên thành ra tin bừa tín bậy cả tà nhân cùng các tà kinh, ngụy pháp của họ.
Rõ ràng Chánh Pháp không bao giờ mạt, chỉ có người mạt mà thôi. Chánh Đạo không bao giờ mất, chỉ có vô minh tà tín nên mới lạc đạo mà thôi!
Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định vẫn còn đó; chỉ có những kẻ có mắt như mù, có tai như điếc, có trí như đậu hũ mới chạy theo tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định mà thôi!
THIÊN NỮ PHÁP KÍNH

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

PHẬT ÔNG HAY BỤT BÀ???


Cư sĩ Chánh Tạng vừa mở cuốn Kinh Nikaya vừa hỏi cư sĩ Chánh Truyền:
_ Này hiền huynh, trong kinh Đa Giới, Trung bộ 3, Đức Phật Thích Ca đã dạy rành rành là một vị thành tựu chánh kiến “biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể thành một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
_ Pháp nhĩ như thị! Pháp là như vậy!
_ Nhưng tại sao trong Đại thừa giáo và Mật tông giáo lại có chuyện “Phật bà” Quan Âm?
_ Vì trước khi thành Phật, “bà” Quan Âm đã kịp “chuyển hệ”, nhưng người đời sau không biết nên không thay đổi cách xưng hô cho “bà”.
_ Phật có dạy thế không?
_ Không.
_ Vậy ai nói?
_ Tôi!
_ Ông làm luận sư Bà-la-môn được rồi đấy! Nhưng này, trước đó, Đức Phật Thích Ca cũng đã nói rõ một vị thành tựu chánh kiến “không thể đề cao một Đạo sư khác” và vị ấy “biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi cùng trong một thế giới (lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện (một lần) không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
_ Đúng thế! Bất cứ thứ gì duy nhất mới quý. Có thứ hai, thứ ba là mất nhiều giá trị.
_ Vậy, tại sao trong cùng một thế giới ngày nay nhưng Đại thừa lại có thêm “kinh vạn Phật”, rồi “kinh” Kim Cang có tới “tám trăm bốn ngàn vạn ức trăm triệu chư Phật như lai”, kinh khủng hơn trong “kinh 42 Chương” có câu: “Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn”?
_ Ông đi tìm những ai đang thọ trì các “kinh” ấy mà hỏi!
_ Chưa hết, tại sao trong các chùa thuộc Phật giáo biến thái lại xuất hiện quá nhiều các tượng Phật khác nhau như Phật Di lặc, Phật A di đà, Phật bà Quan âm, Phật Thiên thủ thiên nhãn, Phật Dược sư, Phật Tỳ lô giá na, Phật vân vân và vân vân? Thậm chí có chùa còn thờ cả “ông” Đấu Chiến Thắng Phật tức con khỉ Tôn Ngộ Không và chẳng còn thờ Phật Thích Ca Mâu Ni là sao?
_ Ông đến các chùa đó mà hỏi! Còn tôi chỉ nói rằng những điều ông vừa nêu hoàn toàn đúng với lời tiên tri của Bậc Chánh Biến Tri trong kinh Tương Ưng!
_ Ngài tiên tri thế nào?
_ Ông hãy lóng tai và ghi nhớ kỹ, Đức Thế Tôn đã dạy: “Này Kassapa, Diệu pháp không biến mất cho đến khi nào tượng pháp không hiện ra ở đời. Và Kassapa khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời Diệu pháp biến mất. Ví như, này Kassapa, vàng (thật) không biến mất khi nào vàng giả chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào vàng giả hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất… Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm Diệu pháp biến mất” (*).
_ Đúng là tiên tri thật! Rõ ràng vì chỉ có ác ngu si mới chế “Phật giả” thay cho Phật thật, và cũng vì thậm ngu si nên nghe sao tin vậy, không biết phân biệt thật giả, đúng sai. Hai cái ngu này hội tụ, Diệu pháp làm sao còn được? Tôi nói như thế có đúng không?
_ Mô Phật! Ông làm thẩm phán được rồi đấy!
CHÁNH MINH PHÁP 

____________________
(*) Xem Tương Ưng tập 2, trang 386

CHUYỆN BỒ TÁT ĐIẠ TẠNG BÂY GIỜ MỚI KỂ


TIN VÀO TỔ SƯ X, TRƯỞNG LÃO Y, HOÀ THƯỢNG Z HAY TIN VÀO PHẬT THÍCH CA, VÀO CHÁNH KINH - CHÁNH LUẬT???


DẪN: Nhiều Phật tử hỏi nhau về thầy tăng ABC, cô ni XYZ... Xin thưa, trước hết hãy ghi nhớ chính lời Phật Thích Ca dạy trong Chánh Kinh Nikaya và Chánh Luật Patimokkha thì sẽ không bao giờ bị sai lầm, bị thất vọng, bị vỡ mộng.

Dưới đây là lời Phật dạy về "Đại Căn Cứ Địa" trong kinh Tăng Chi, mà các Phật tử cần y chỉ, phụng hành. Trong Đại Kinh Niết Bàn, trước lúc nhập diệt, Đức Phật khẩn thiết nhắc lại và gọi là "Đại Giáo Pháp" cho các con Ngài phải y cứ. Xin trân trọng ghi lại:

“8 Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có vị TRƯỞNG LÃO, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””.

Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với KINH, đem đối chiếu với LUẬT.

Nếu chúng không phù hợp với KINH, không tương xứng với LUẬT, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo SAI LẦM”. Và Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy TỪ BỎ chúng.

9. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có vị TRƯỞNG LÃO, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư””.

Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với KINH, đem đối chiếu với LUẬT.

Nếu chúng phù hợp với KINH, tương ứng với LUẬT, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh”.

Này các Tỷ-kheo, như vậy là ĐẠI CĂN CỨ ĐỊA thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.” (Xem thêm các ĐẠI CĂN CỨ ĐỊA thứ nhất, thứ hai, thứ ba trong Tăng Chi tập 2, Chương 4, tr.135-140)

BỤT A HÀM BÀ LA MÔN DẠY VẮT SỮA BÒ


So sánh hai bài kinh tương đương trong Chánh Kinh Pali và tà kinh A Hàm sẽ thấy nhiều điều khôi hài trớ trêu. Tà kinh A Hàm có từ hàng ngàn năm trước còn như rứa, huống hồ ba thứ "huyền ký" vô căn cứ ba sàm của những kẻ phá hoại đời nay.
Phân tích so sánh
Chánh Kinh "Phù Di" (số 126, Trung Bộ Pali) và Tà kinh "Phù Di" (số 173, Trung A Hàm)
Chánh kinh Pāli: “Ví như, này Bhumija, một người cần sữa, tìm cầu sữa, đi chỗ này chỗ kia để tìm sữa. Và người ấy vắt sữa từ nơi vú con bò cái còn trẻ. Nếu người ấy có ước nguyện, vắt sữa từ nơi vú con bò cái còn trẻ, thời người ấy lấy được sữa.”  
Tà kinh A Hàm: Này Phù-di, ví như có người muốn lấy sữa, cho bò ăn uống no nê rồi vắt sữa nơi vú nó thì chắc chắn lấy được sữa.”
Phân tích: Những ai bấy lâu tin theo A Hàm, cho bò… đực ăn uống no nê rồi vắt sữa nơi vú nó có chắc chắn lấy được sữa không? Ai làm được chuyện này hãy chỉ cách, kẻo Bụt A Hàm mang tiếng dạy điều ngớ ngẩn vớ vẩn.
Nếu quý vị bó tay, xin mời đọc hết cả tạng kinh Pāli đồ sộ được kết tập đầu tiên để tìm xem có bất kỳ một ví dụ nào vô lý như thế này không. Chắc chắn là không. Vì sao? Vì đó là Chánh Kinh!
***
Chánh kinh Pāli: “Nếu bốn ví dụ này, này Bhumija, khởi đến từ nơi Ông cho vương tử Jayasena, thời vương tử Jayasena tự nhiên tin tưởng Ông, và khi đã tin tưởng, sẽ hành động đúng theo cung cách một người đã tin tưởng Ông.
-- Nhưng làm sao, bạch Thế Tôn, bốn ví dụ này khởi đến từ nơi con cho vương tử Jayasena, khởi lên một cách tự nhiên, từ trước chưa từng được nghe, như Thế Tôn được?
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Bhumja hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”
Tà kinh A Hàm:  “Này Phù-di, nếu ngươi nói cho Vương đồng tử nghe bốn ví dụ này, Vương đồng tử nghe xong chắc chắn sẽ rất hoan hỷ, cúng dường thầy suốt đời, như áo, chăn, uống ăn, ngọa cụ, thuốc thang và đủ các thứ nhu dụng khác cho đời sống”.
Tôn giả Phù-di thưa: “Bạch Thế Tôn, trước đây con chưa từng được nghe bốn ví dụ này, thì lấy đâu để nói lại. Duy chỉ hôm nay mới được nghe Thế Tôn nói mà thôi”.
Phật thuyết giảng như vậy. Tôn giả Phù-di và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.”
Phân tích: Quả là “Bụt A Hàm” đã đi quá xa, nói năng quá trớn hơn “Phật Pāli” rất nhiều, vì vậy không còn thực tế và hợp lý nữa.
Phù-di chỉ cần nêu ví dụ cho bò (đực) ăn no vắt sữa thôi thì Vương đồng tử nghe xong “chắc chắn sẽ rất hoan hỷ, cúng dường thầy suốt đời, như áo, chăn, uống ăn, ngọa cụ, thuốc thang và đủ các thứ nhu dụng khác cho đời sống”… trong tù vì cái tội giỡn mặt với vua quan.
Tất nhiên Phù-di cũng chẳng dại như mấy người tin A Hàm, vì ông ta cũng biết những ví dụ ngớ ngẩn này chẳng ai nói ra nên ổng “chưa từng được nghe”, chỉ có hôm nay ổng mới nghe Bụt A Hàm nói tào lao như vậy mà thôi.
- Cuộc nói chuyện chỉ có Tôn giả Phù-di và Đức Thế Tôn nhưng lại có các Tỳ-kheo khác xen vào, đây cũng là điều không thực tế và phi lý khác nữa của bản A Hàm. Trong bản A Hàm, những tùy tiện như vậy rất nhiều, một bản Thánh Kinh không được phép dễ dãi như thế, trừ phi nó là kinh ngụy tạo.
NGHIÊN CỨU HỌC PHẬT

LẨU THẬP CẨM TRONG TÀ KINH HOA NGHIÊM CỦA ĐẠI THỪA GIÁO


Trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm do luận sư Bà-la-môn Long Xà kết tập, có câu chuyện cầu đạo của Thiện Tài Đồng Tử. Chuyện kể rằng mỗi khi học xong và chứng được một “tam muội”, Thiện Tài lại được vị thiện tri thức này giới thiệu đi học với một thiện tri thức khác. Cứ thế, Thiện Tài Đồng Tử học mọi thứ trên đời cho đến vị thầy cuối cùng thứ… 53 là xong... nghiệp.
Thế nhưng theo kinh Nguyên Thủy Nikaya Tương Ưng tập 5, bài kinh số 152, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lại dạy rằng: “Này Ānanda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Ānanda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ānanda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi”.
Đối với các Tỳ-kheo là như vậy, và đối với các cư sĩ cũng như thế. Nếu thực sự là đệ tử Phật thì không bao giờ còn phải học đòi một nơi nàokhác nữa. Trong kinh Nikaya nguyên thủy, hàng trăm lần như một, các cư sĩ khi đã thấy Pháp, chứng Pháp, biết Pháp, thể nhập vào Pháp, nghi ngờ vượt qua sẽ “không y cứ người khác đối với các pháp của bậc Đạo Sư”. Một đoạn trích dưới đây đối với cư sĩ tướng quân Sīha là chứng minh điển mình:
“Rồi tướng quân Sīha thấy pháp, chứng pháp, biết pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ vượt qua, do dự trừ diệt, đạt được vô sở úy, không y cứ người khác đối với các pháp của bậc Ðạo Sư.”  (Kinh Tướng quân Sīha, TC 8 Pháp-a, II. Phẩm Lớn)
“Người khác” ở đây có nghĩa là các sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo, các tu sĩ - cư sĩ - các ngoại học không đáng tin tưởng.
Rõ ràng, những tu sĩ nào, cư sĩ nào tuy mang danh là đệ tử Phật nhưng chưa thấy Pháp, chưa chứng Pháp, chưa biết Pháp, chưa thể nhập vào Pháp, nghi ngờ chưa vượt qua mới phải tầm sư học đạo nơi người khác như Thiện Tài Đồng Tử của kinh Hoa Nghiêm Đại Thừa. Hoặc nếu Đồng Tử không phải là đệ tử Phật thật sự, thì cũng là những gián điệp ngoại học nhảy vào Phật giáo để lừa bịp Phật tử, biến họ thành những tệ tử phản bội lại những lời dạy đích thực của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni.
Thật vậy, trong Kinh Tăng Chi, tập 3, trang 77, đối với người đệ tử tối thượng muốn học tập pháp vô thượng, Đức Thế Tôn còn dạy rõ hơn:
Còn học tập vô thượng là gì?
 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người học tập về voi, học tập về ngựa, học tập về xe, học tập về cung pháp, học tập về kiếm pháp, học tập về các nghề cao thấp sai biệt hay học tập theo các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh.
Này các Tỷ-kheo, đây là có học tập hay không? Ta nói rằng: "Ðây là không học tập". Học tập ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, ai học tập Tăng Thượng Giới, học tập Tăng Thượng Định, học tập Tăng Thượng Tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỷ-kheo, đây là học tập vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là học tập Tăng Thượng Giới, học tập Tăng Thượng Định, học tập Tăng Thượng Tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là học tập vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng”.
Vì Thiện Tài Đồng Tử xuất hiện trong một cuốn kinh ra đời sau khi Phật nhập Niết Bàn đến sáu trăm năm, nên vị “đệ tử” Đại Thừa này đã quên những lời dạy chánh truyền của Đức Thế Tôn, không muốn là vị đệ tử tối thượng, không thể là ngọn đèn cho chính mình, không thể tự mình nương tựa chính mình, âu cũng là điều dễ hiểu.
Chỉ có điều, Thiện Tài Đồng Tử được xưng tụng là gương mẫu của Đại Thừa, thế nhưng lại không nhằm vào học tập Tăng Thượng Giới - Tăng Thượng Định - Tăng Thượng Tuệ, lại chạy theo các pháp “hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, đây mới là điều quái dị. Nói thật, chuyện này chỉ có những ai tin vào kho thần thoại “Cung rồng Ta-kiệt-la” của Bà-la-môn Long Xà mới chấp nhận nổi.
Hẳn, Thiện Tài Đồng Tử muốn tuân theo lời dạy của Bà-la-môn Long Mãng, muốn nêu gương cho những ai tin Đồng Tử phải xa rời Chánh pháp, học hỏi theo những dục nhiễm thế tục, có vậy họ mới “phát triển” để trở thành “lẩu thập cẩm tam muội” được. 
Cho nên rằng thì là sau khi học xong các nghề “tạp pí lù” để trở thành kẻ đa hệ đa chủng, Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm của Bà-la-môn Long Xà phải đổi tên thành Thiên Tai Đồng Chết mới đúng!
Chử Đồng Tử Tiên Sinh

DẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT CHÚ




ĐỨC PHẬT THÍCH CA DẠY VÔ MINH NÊN MỚI TÁI SANH LUÂN HỒI. CÁC ĐẠI THỪA SƯ VÀ MẬT TÔNG TĂNG THEO LỜI BÀ LA MÔN XÚI DẠI, CÃI PHẬT ĐÒI TÁI SANH


Dưới đây là một số trích đoạn các bài kinh trong Kinh Tập nêu rõ Đức Thế Tôn khuyên dạy chớ có tái sanh.
Trích Kinh Rắn (Sn 1)
16. Với ai, không có gì,
Do rừng ái sanh khởi,
Tạo nhân khiến trói buộc
Con người vào tái sanh
.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Với ai có dính mắc
Do dại nguyện sanh khởi
Muốn trầm luân vô minh
Nên luân hồi sanh tử
Theo tà pháp không bỏ
Cứ mong muốn tái sanh
Như loài rắn chui rúc
Trong rừng rậm tối mù.

Kiếp này xa Chánh Pháp,
Kiếp sau đọa cõi mù.
Trích Kinh Dhaniya (Sn 3)
29. Giống như con bò đực,
Giật đứt các trói buộc,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã nói lên như vậy.
Như voi làm bựt đứt
Các giây leo héo mục,
Ta không còn đi đến,
Chỗ thai tạng tái sanh
.
Nếu là ý người muốn,
Thần mưa, hãy mưa đi
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Giống như con thiêu thân,
Lao mình vào lửa cháy,
Người khôn không như vậy,
Theo gương bậc Đại Hùng,
Như người hiền tránh ác,
Tránh luôn cả khổ đau,
Không còn muốn đi đến,
Chỗ tái sanh thai tạng.
Nếu ai muốn trái
 ngược,
Cứ đường dữ lao đi.
Trích Kinh Từ Bi (Metta Sutta) (Sn 25)
152. Ai từ bỏ tà kiến,
Giữ giới, đủ chánh kiến,
Nhiếp phục được tham ái,
Ðối với các dục vọng,
Không còn phải tái sanh,
Ði đến thai tạng nữa
{ Thừa tự Pháp trích lục
Ai cố chấp tà kiến,
Tà giới, thiếu chánh kiến,
Bị tham ái nhiếp phục,
Trong tâm đầy dục vọng,
Cứ còn muốn tái sanh,
Đi đến thai tạng nữa,
Tạo khổ đau nhiều phía,
Như vậy chẳng từ bi,
Với mình và với người.
Trích Kinh Hemavata (Sn 27)
Sātāgira:
163. Sự thật là vị ấy,
Ðầy đủ với các Minh,
Ðây là lời Dạ-xoa,
Tên Sātāgira
Sở hành thật thanh tịnh,
Mọi lậu hoặc đoạn tận,
Thật sự đối vị ấy,
Không còn có tái sanh
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Dạ-xoa kia còn biết,
Vị đầy đủ các Minh,
Các phiền não đoạn tận,
Mới không còn tái sanh.
Nhưng nhiều người thiếu trí,
Tin theo kẻ lọc lừa,
Cùng tà pháp, dại nguyện,
Phải tái sanh luân hồi,
Trong nhà lửa khổ đau.
Trích Kinh Sūciloma (Sn 47)
273. Hãy nghe! Này Dạ-xoa,
Những ai được rõ biết
Từ đâu, khiến sanh khởi,
Họ tẩy sạch nhân ấy.
Họ vượt qua dòng nước,
Chảy mạnh khổ vượt này,
Trước chưa được vượt qua,
Không còn có tái sanh.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Hãy nghe! Này Dại nhân,
Những ai 
tin Đại ác,
Khiến 
tà pháp sanh khởi,Không tẩy sạch nhân ấy,
Khó vượt qua dòng nước,
Chảy mạnh
 đầy khổ đau,
Trước 
sau không vượt được,Dòng tái sanh luân hồi.
Trích Kinh Māgha (Sn 86)
Phật dạy cho thanh niên Māgha
“...502. Những ai ngay đời này,
Như thật rõ biết được,
Ðây đời sống cuối cùng,
Không còn có tái sanh,
Ðúng thời, đối vị ấy,
Hãy cúng đồ tế tự
Vị Phạm chí cầu phước,
Hãy bố thí như vậy.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Đúng thời cúng dường vị
Không còn phải tái sanh,
Gieo duyên lành Chánh Pháp,
Nhờ dòng Pháp lưu chuyển,
Tới bến bờ an vui,
Không còn phải trở lui,
Trong đầm lầy hôi thối.
Trích Kinh Sabhiya (Sn 91)
514. Thế Tôn bèn đáp lại:
Hỡi này Sabhiya,
Ai chính với con đường,
Do tự mình tạo ra,
Ði đến sự tịch tịnh,
Vượt qua các nghi hoặc,
Từ bỏ, đoạn tận hẳn
Cả hữu và phi hữu,
Phạm hạnh đã thành tựu,
Tái sanh đã đoạn tận,
Vị ấy được xứng danh,
Gọi là vị Tỷ-kheo
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Ai không bỏ, đoạn tận
Cả hữu và phi hữu,
Phạm hạnh không thành tựu,
Còn tái sanh luân hồi,
Vị ấy chưa xứng danh,
Là người con của Phật.
Vị ấy còn đứng ngoài,
Chánh giáo pháp Thế Tôn,
Còn ở xa giải thoát,
Mọi phiền não khổ đau,
Không phải là con Phật.
Trích Kinh Vāsettha (Sn 115)
Thế Tôn dạy cho hai thanh niên Bà-la-môn Vāsettha và Bharadvaja
“...656. Ba Vệ-đà thành tựu,
An tịnh, tái sanh đoạn,
Vāsettha nên biết,
Kẻ ấy được Phạm Thiên,
Ðược Thiên chủ Sakka,
Biết đến thật tường tận.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Bà-la-môn đoạn tận,
Không còn phải tái sanh,
Đến Phạm Thiên còn biết,
Thiên chủ Sakka khen.
Nhưng nhiều người không biết,
Cứ dại nguyện tái sanh,
Vì nghe theo tà đạo,
Lạc cõi mù khổ đau.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (Sn 139)
* Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: "Có thể có chân chánh tùy quán hai pháp theo một pháp môn khác không?" Các Thầy cần phải trả lời: "Có thể có". “Có thể có như thế nào?”
"Phàm có khổ gì hiện hữu, tất cả đều do duyên vô minh", đây là tùy quán thứ nhất.
"Do đoạn diệt, ly tham vô minh không có dư tàn, khổ không có hiện hữu", đây là tùy quán pháp thứ hai.
Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp, không có phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, được chờ đợi là một trong hai quả sau đây: Ðược chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất Hoàn.
Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
729. Những ai tiếp tục rơi,
Dòng luân chuyển sanh tử,
Ðến hữu này hữu khác,
Sanh thú do vô minh.
730. Vô minh này, đại si,
Ðưa đến luân chuyển dài,
Chúng sanh, Minh đạt được,
Không còn phải tái sanh
...”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Tái sanh do vô minh,
Không tái sanh là Minh,
Nguyện luân hồi, đại si,
Đến khổ này khổ khác,
Do đức tin lầm lạc,
Vào tà giáo bịp lừa,
Đúng, vô minh là khổ.

Tà tín cũng khổ lây.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
 “Bậc Ðạo sư lại nói thêm:
731. Phàm khổ gì hiện hữu,
Tất cả duyên các hành,
Do đoạn diệt các hành,
Khổ không có hiện hữu.
732. Do biết nguy hiểm này,
Khổ do duyên các hành,
Tịnh chỉ tất cả hành,
Do phá hoại các tưởng,
Như vậy, khổ được diệt,
Biết như thực là vậy.
733. Bậc Hiền trí chánh kiến,
Hiểu biết, với chánh trí,
Nhiếp phục Ma kiết sử,
Không đi đến tái sanh
.
...
{ Thừa tự Pháp trích lục
Kẻ vô trí tà kiến,
Tà tín vào tà nhân,
Chấp tà giới, tà pháp,
Bị ác ma trói cột,
Cứ tái sanh luân hồi.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
742. Do duyên thủ, có hữu,
Do hữu, đi đến khổ,
Từ sanh nên có chết,
Ðây hiện hữu của khổ.
743. Do vậy, bậc Hiền trí,
Diệt thủ, nhờ chánh trí,
Nhờ thắng trí sanh diệt,
Không đi đến tái sanh
...”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Cứ ước nguyện tái sanh,
Do chấp thủ tà pháp,
Cứ hữu sanh, hữu khổ,
Phải già chết luân hồi,
Vì bị ma trói cột,
Nhưng cứ tưởng oai hùng,
Khổ lại thêm cùng khổ.
Khổ khổ là như vậy.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
 “746. Do đoạn tận hữu ái,
Tâm Tỷ-kheo tịch tịnh,
Vượt khỏi sanh luân chuyển
Vị ấy không tái sanh.
...”
{ Thừa tự Pháp trích lục
Không đoạn tận hữu ái,
Tâm khó an, tịch tịnh,
Cứ tái sanh luân chuyển,
Trong nhà lửa mê mờ.
Trích Kinh Hai Pháp Tuỳ Quán (tt)
Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
754. Chúng sanh thuộc sắc giới,
Chúng sanh trú vô sắc,
Không tuệ tri đoạn diệt,
Chúng đi đến tái sanh
.
755. Những ai liễu tri sắc,
Khéo an trú vô sắc,
Giải thoát trong đoạn diệt,
Họ từ bỏ sự chết.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Không tái sanh, không chết,
Giải thoát mọi hiểm nguy,
Biết đường cứu người khác,
Vị tự cứu được mình.
Bản thân còn lầm lạc,
Trong tà pháp luân hồi,
Nói cứu cho người khác,
Là chuyện hão huyền thôi.
Trích Kinh Hang Ðộng Tám Kệ (Sn 151)
779. Do liễu tri các tưởng,
Vượt qua khỏi bộc lưu,
Bậc Mâu-ni không nhiễm,
Ðối với mọi chấp thủ,
Với mũi tên rút ra,
Sở hành không phóng dật,
Không cầu mong đời này,
Không mong ước đời sau
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Không liễu tri các nguyện,
Không vượt khỏi tà kinh,
Bị tà nhân dẫn giắt,
Chấp thủ mọi tà pháp,
Bị dính mũi tên ma,
Cả đời này tụng chú,
Cả đời sau khổ bù.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Pingiya (Sn 217)
Đức Thế Tôn dạy cho thanh niên Pingiya
Thế Tôn:
1121. Thế Tôn đáp lại rằng:
Hỡi này Pin-gi-ya,
Thấy được sự tác hại,
Trong các loại sắc pháp,
Chúng sanh sống phóng dật,
Bị phiền lụy trong sắc,
Do vậy, Pin-gi-ya,
Ông chớ có phóng dật,
Hãy từ bỏ sắc pháp
Chớ đi đến tái sanh.
...
Thế Tôn:
1123. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Pin-gi-ya!
Thấy chúng sanh loài Người,
Rơi vào trong khát ái,
Bị già nua đốt cháy,
Bị già nua chinh phục
Do vậy, Pin-gi-ya,
Ông chớ có phóng dật
Hãy từ bỏ khát ái,
Không còn bị tái sanh
.
{ Thừa tự Pháp trích lục
Hỡi này Bà con ma,Chỉ với một Kinh Tập,Phật dạy biết bao lần,Vô minh phải tái sanh,Có Minh luân hồi dứt.
Do vậy, 
Bà con ma,Các người chớ tin bậy,
Hãy từ bỏ 
hắc pháp
Chớ 
dại nguyện tái sanh.
Hỡi này Bà con ma!Chớ có tin tà nhân,
Rơi vào trong 
tà đạo,
Bị 
vô minh che phủ,
Bị 
tà kiến bao trùm
Do vậy, 
Bà con ma,Mỗi người mau tỉnh thức
Hãy từ bỏ 
ác pháp,
Không còn bị tái sanh.
Trên đây mới chỉ là các trích đoạn trong Kinh Tập, một tạng Kinh nhỏ trong toàn bộ Chín Tạng Thánh Kinh của Chư Phật; thế nhưng cũng đủ nói rõ chủ trương không tái sanh của Chư Phật, nêu rõ tái sanh là vô minh, giải thoát không còn tái sanh là Minh.
Bản thân mỗi người có giải thoát mới biết cách giúp người khác giải thoát. Mình còn chìm trong tham-sân-si, luân hồi khổ đau mà nói chuyện cứu cho người khác là nói khoác, nói láo. Các Tỳ-kheo Thanh Văn nỗ lực ngay trong hiện tại để cứu mình, sau đó tích cực đào tạo thế hệ theo sau tự đảm trách nhiệm vụ của mình, vì thế các ngài không cần phải tái sanh nhưng vẫn thực hiện trọn vẹn đạo lý Từ Bi của người con Phật.
Thế nhưng các tổ sư Bà-la-môn gián điệp phải xóa bỏ chánh lý này. Họ phải lươn lẹo để giắt dẫn con Phật theo một mê lộ khác trái ngược với truyền thống cũ. Họ phải tung vào các kinh giả, luật giả, luận dỏm để phá hoại Phật Pháp ngay từ bên trong. Họ phải đưa pháp môn niệm chú, cùng các hình thức tế lễ theo kiểu Bà-la-môn giáo vào trong Đạo Phật nhằm biến thái Đạo Phật. Họ phải ngụy biện cho tà nguyện ‘tái sanh cứu đời’ để phân hóa Tăng chúng, lôi kéo con Phật xa rời Chánh Pháp của Phật, làm suy đồi Phật giáo.
Tóm lại mỗi người con Phật phải ý thức rõ việc này để tự cứu lấy chính mình và giúp cho mọi người.
CHÁNH PHÁP CHÁNH TRUYỀN