Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

NAM TÔNG CŨNG BỊ LỪA!


Hai cư sĩ bàn luận với nhau. Cư sĩ Trí hỏi cư sĩ Tuệ:
_ Ông có biết tác giả “Chú giải Kinh Pháp Cú” là ai không?
_ Đích thị là ông luận sư gốc Bà-la-môn Phật Âm – Buddhaghosa.
_ Ông ta sống vào thời nào?
_ Nửa cuối thế kỷ thứ năm sau Công nguyên.
_ Ông ta sống sau Phật cả ngàn năm, làm sao biết Đức Phật nghĩ như thế này, nghĩ như thế kia? Liệu có nên tin tưởng một chiều các chú giải của một ông Bà-la-môn sống sau Phật cả ngàn năm?
Cư sĩ Tín nheo mắt:
_ Chậc, đại khái cũng giống các nhà văn sáng tác tiểu thuyết chứ sao.
_ Đâu có dễ như vậy! Chú giải Thánh Kinh hoàn toàn khác với viết tiểu thuyết, không tự ý sáng tác hư cấu được. Hơn nữa, ông cần lưu ý ông ta không những là Bà-la-môn mà còn nổi tiếng chống các phái ly giáo khỏi đạo Bà-la-môn nữa đấy. Ông phải thận trọng chớ vội tin (1).
_ Ừ nhỉ, đọc chú giải kinh Pháp Cú, hoặc Thanh Tịnh Đạo tôi thấy có nhiều điểm quái gở, đáng nghi ngờ…
_ Ví dụ?
Cư sĩ Tín mở một cuốn sách:
_ Như ngay tựa đề đầu tiên bản chú giải Pháp Cú có câu thế này “Nếu con mắt làm hại ngươi hãy móc bỏ nó đi” (1)
Cư sĩ Trí cười khẩy:
_ Đó là tinh tấn Ba-la-mật?
_ Tinh tấn “ba mửa mật” thì có! Cứ vậy, lá mật làm phiền ông cũng móc bỏ đi à? Trái tim đau làm hại ông cũng móc bỏ đi à? Cái đầu nhức làm hại ông cũng chặt phứt nó đi à? Chú giải gì ác dzậy!
_ Ác kiểu đó chưa kinh khủng lắm!
_ Trời đất còn chú giải kinh… hoàng kiểu gì nữa?
_ Có chú giải kể chuyện một con quỷ Dạ-xoa vừa ăn thịt con nít ngoen ngoẻn, nghe một câu kệ cũng chứng thánh quả Dự Lưu ngay liền (2)
_ Quỷ thần thiên địa ơi! Chú giải kiểu đó, hổng lẽ các vị thánh Dự Lưu khác cũng đều là Dạ-xoa cả sao?
_ Ai cấm được mấy ông Bà-la-môn chơi ác, kể bậy? Những ai tin Phật Âm, họ nghe một câu Phật dạy mà tâm đắc, Phật Âm cũng cho chứng đắc… Dạ-xoa tức thì.
_ Chơi ác thiệt! Còn chuyện này nữa, Phật Âm Bà-la-môn sống sau Phật Thích Ca cả ngàn năm vẫn biết rõ Phật Thích Ca “suy nghĩ” như vầy: Trải qua bốn A tăng kỳ (Asankheyya) và một trăm ngàn đại kiếp (mahakappa) của quả địa cầu, Ta đã từng cắt thủ cấp khôi ngô tuấn tú của chính mình, Ta đã từng móc mắt Ta, Ta đã từng rứt thịt nơi quả tim Ta, Ta đã từng đoạn ly vợ con yêu dấu nhất đời mà Ta quý trọng chẳng khác nào mạng sống của tự thân Ta, nhất nguyện để hoàn thành hạnh Parami (Ba La Mật) ngõ hầu để có thể tuyên dương chánh pháp, phổ độ quần sanh” (3)
_ Phật Âm Bà-la-môn xúi dại đệ tử Phật Thích Ca, tuyên dương ác pháp, phổ hại quần sanh thì có, chứ chú giải cái nỗi gì.
_ Thật vậy! Chui vào hàng ngũ kẻ khác, xúi dại người ta tầm thường hoá Thánh vị, xuyên tạc vu khống Bậc Minh Hạnh Túc, cũng là một cách chống lại những kẻ đối nghịch.
Quả nhiên Đức Phật dạy không sai, “Chớ có tin cho dù đó là truyền thống, truyền thuyết hay bậc đạo sư”.
_ Phật Âm Bà-la-môn ra đời khi đạo Phật đã tồn tại từ hàng ngàn năm. Lúc này đạo Phật đã có hàng vạn trưởng lão “nguyên thuỷ từ trong bụng mẹ”. Người đời sau không tin các vị này lại dễ dàng tin ngay một tu sĩ ngoại đạo khét tiếng chống ly khai đạo Bà-la-môn. Thật không sao hiểu nổi! (4)
_ Hãy đọc và so sánh kỹ các luận giải của Phật Âm Bà-la-môn với chánh Kinh, chánh Luật, ông còn phải giật mình kinh hoàng nhiều lần nữa đấy!
_ Việc này trước hết dành cho các tu sĩ.
_ Nhưng bảo vệ chánh pháp là nhiệm vụ của mọi người.
_ Đồng ý. Tôi sẽ cẩn trọng hơn. Cảm ơn ông đã nhắc nhở.
 CƯ SĨ CHÁNH TRUYỀN
______________________
(1) Xem “Tích Truyện Pháp Cú”, Thiền viện Viên Chiếu dịch, Nguyên tác: "Buddhist Legends”, Eugène Watson Burlingame
(2) Chú giải Kinh Pháp Cú tập 1, tác giả Phật Âm – Buddhaghosa, dịch giả Pháp Minh, Thành hội Phật Giáo TPHCM – 1997, trang 90: “Bài kệ vừa dứt, nữ Dạ Xoa chứng được quả Tu Đà Hườn”.
(3) Chú giải kinh Pháp Cú tập 1, Dịch giả Pháp Minh, Thành hội Phật Giáo TPHCM - 1997, tr.10

(4) Theo bản tường trình Dhammakitti viết về Buddhaghosa (Nguyên tác: The Life and work of Buddhaghosa. Tác giả: Bimala Charan Law, M.A., B.L; Dịch giả: Tỳ-khưu Thiện Minh)Trong khi tường trình về triều đại nhà vua Mahānāma trị vì tại đảo quốc Tích Lan vào những năm đầu thế kỷ thứ V sau CN, cuốn biên niên sử Mahāvaṃsa đã kể lại cuộc đời và sự nghiệp của Buddhaghosa như sau: "Ông là một thanh niên thuộc đẳng cấp Bà-la-môn, sinh tại vùng phụ cận thị trấn Magadha, là nơi trồng cây Đại Bồ-đề, ông đã hoàn tất việc huấn luyện theo phái "vijja" và "sippa”,  và có kiến thức rất sâu rộng về ba phái "Phệ-đà”,  và ông cũng là người có được nhiều tài năng uyên bác, đã hoạt động không biết mỏi mệt chống lại các phái ly giáo, đã tự coi mình là người chống lại ly giáo khắp vùng Jumbudīpa…” Ghi chú: Lúc này Bà-la-môn Buddhaghosa còn thanh niên, chưa nằm vùng trong Phật giáo, cho nên ông ta ‘chống các phái ly giáo’ là chống ly khai Bà-la-môn giáo. Tất nhiên Phật Giáo nằm trong số này.


Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

14 ĐIỀU RĂN CỦA PHẬT... GIẢ


Cư sĩ áo lam hỏi cư sĩ áo trắng:
_ Này ông, đi đâu tôi cũng thấy người ta đua nhau khoe “14 Điều răn của Phật” do Ht KCT giới thiệu. Những điều răn ấy trong Kinh nào vậy?
_ Sao ông không hỏi những người tin và phổ biến những câu ấy, lại hỏi tôi?
_ Vì ông đọc tụng và nhớ nhiều Kinh điển.
Cư sĩ áo trắng chắp tay trước ngực:
_ Mô Phật, tôi không dám nghĩ như ông nói. Tôi chỉ dám chắc một điều “14 Điều răn” ấy không có trong kinh tạng Nguyên thủy Nikāya. Nghe nói mấy điều răn này có xuất xứ từ Trung Quốc. Khi HT KCT qua thăm TQ, được người ta tặng. HT chỉ dịch lại thôi.
_ Thảo nào, tôi mới đọc vài câu đã thấy ngớ ngẩn thế nào ấy!
_ Xin nêu điển hình!
_ Ví dụ như câu thứ nhất “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”
Cư sĩ áo trắng lắc đầu:
_ Đúng là kiểu nói một chiều ngớ ngẩn. Mình chỉ là kẻ thù của chính mình khi mình muốn hướng thiện nhưng bản năng thân, khẩu, ý lại cứ hướng theo chiều bất thiện. Ngược lại mình là bạn lớn nhất của chính mình, khi mình muốn hướng thiện và thân, miệng, ý của mình cũng hướng theo chiều thiện lành.
_ Rõ ràng câu nói ấy đã chứng tỏ người nghĩ ra nó luôn thù hận với chính mình vì những tâm ý còn đầy bản năng bất thiện của mình.
_ Ông nói hơi bị đúng. Những ai tin câu ấy cũng thù hận chính mình như vậy nên mới chấp nhận nó! Còn câu thứ hai thế nào?
_ “Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá”
Cư sĩ áo trắng thở phì:
_ Đó là một trong những câu nói ngớ ngẩn nhất mà tôi từng được nghe. Đúng lý ra câu ấy phải nói đầy đủ là “ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá lời Phật nói”.
Cư sĩ áo lam trợn mắt:
_ Ông phải chứng minh, nếu không tui kiện đó.
_ Chứ gì nữa. Này nhé, tôi hỏi ông, giả dụ có một bọn cướp tàn ác đến đây, chúng hỏi ông đường đến ngôi làng bên cạnh để tiêu diệt tất cả dân lành tại đó. Thay vì ông có thể nói cách nào đó, thậm chí nói trớ là đang có quân binh phục kích trong làng, rồi sau đó ông tìm cách thông báo cho dân chúng được biết để cứu họ và cứu cả bọn cướp không gây nghiệp dữ. Đằng này ông lại thật thà khai báo khiến tất cả dân lành bị giết, còn bọn cướp thì gây nghiệp ác. Tôi hỏi ông, sự thật thà ở đây có ngu ngốc không?
Cư sĩ áo lam gật gù, tiếp lời:
_ Không những ngu ngốc mà còn ngớ ngẩn đến độ tàn nhẫn. Thế nhưng mình nói thật cách nào đó nhưng vẫn cứu được người vẫn tốt hơn!
_ Đương nhiên rồi! Giới hạnh ở đâu là trí tuệ ở đó, trí tuệ ở đâu là giới hạnh ở đó. Ở đây chúng ta chỉ nêu các trường hợp để chứng minh câu nói một chiều “dối trá” kia không phải của Đức Phật, chứ không có ý khuyến khích mọi người nói dối.
_ Đồng ý! Vì Đức Phật đã dạy ngài La Hầu La không nên nói láo dù chỉ để vui đùa, vì kẻ nói láo không còn biết xấu hổ và sợ hãi không còn từ việc ác gì không dám làm.
Cư sĩ áo trắng phụ họa:
_ Đúng vậy. Người giữ giới hạnh là người có trí tuệ. Người có trí tuệ là người có giới hạnh. Người ác giới là người có ác tuệ. Người có ác tuệ là người có ác giới.
Chúng ta phải tự chế không nói dối, nhất là không nên tâm đắc điều gì đó rồi bịa ra Phật nói, tội chết! Một chiều cho rằng Bụt răn “ngu dốt lớn nhất là dối trá”, e rằng chính kẻ bịa ra câu ấy rồi gán cho Phật nói mới thật là ngu dốt và dối trá.
_ Cho nên tôi mới răn “ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá lời Phật nói”. Hồi Chiến tranh thế giới lần thứ hai, có một ông chủ đã cứu thoát hàng ngàn người khỏi nạn diệt chủng vì ông ta đã nói khác về chủng tộc của họ và che dấu cho họ. Sau đó ông ta còn làm giả giấy tờ để giúp họ vượt thoát khỏi vùng đất chết. Sau chiến tranh hàng ngàn gia đình được sống sót xem ông ta như vị cứu tinh và hàng năm đều làm lễ nhớ ơn.
Cư sĩ áo lam gật gù:
_ Tôi cũng biết chuyện ấy. Tôi còn nghe chuyện một phụ nữ sống nơi vắng vẻ. Tối hôm ấy chồng lại vắng nhà, bọn trộm cướp mò đến. Bà ta biết có kẻ rình rập bên ngoài liền giả bộ gọi điện thoại cho người nhà. Bả cố ý nói lớn tiếng cốt để bọn trộm cướp cũng nghe được.
_ Bả nói gì?
_ Bả bảo người nhà nếu có đến nhớ gọi bà ra mở cửa, đừng động vào cửa lớn, cửa sổ và các vật bằng sắt, chồng bà có gài điện, bị giật chết ráng chịu. Nói xong, bả hét lớn như bị điện giật!
_ Trời đất! Gài điện chi ác vậy!
_ Có gài điện đâu mà giật. Bả nói trớ ra như vậy để dọa bọn cướp. Nhờ vậy bọn cướp nghe được, chúng hoảng sợ bỏ chạy quăng lại cả dao kiếm. Hú hồn!
Cư sĩ áo trắng trầm giọng:
_ Trong trường hợp này, không ai nỡ bắt tội bả vì đã nói dối, và chẳng ai chửi bả là thứ ngu dốt lớn nhất. Nếu bả không “gài điện ảo” không chừng còn bị cướp của, hãm hiếp, giết người bịt miệng nữa đấy! Tất nhiên, nếu bả không nói dối mà vẫn cứu được mình vẫn tốt hơn.
_ Cho nên khi biết câu chuyện ấy và đọc “điều răn ngu dốt” kia, tôi thấy nghi ngờ ngay, chắc nó không phải của Phật.
_ Trong lịch sử, có một vị đại Công thần đã cho quân lính nấp đằng sau bức tượng Thần Hoàng và đọc bài “sấm truyền”. Về sau bản “sấm truyền” ấy trở thành bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.
Cư sĩ áo lam phụ họa:
_ Còn một vị đại Công thần khác bí mật sai quân lính viết mật lên lá cây và loan truyền cả Trời Đất cũng ủng hộ dân tộc chống ngoại xâm, khiến tinh thần dân chúng hồ hởi, nhờ vậy đã giữ yên đất nước.
_ Hẳn nhiên, bên cạnh đó cũng có những kiểu dối trá hại mình, hại dân, hại nước. Chỉ có Chuyển Luân Thánh Vương mới làm được việc bản thân mình giữ nghiêm giới hạnh và khuyến khích mọi người cùng giữ nghiêm phạm hạnh để tạo yên vui cho đất nước.
_ Tôi cũng không ủng hộ dối trá vì đây là giới cấm thứ tư trong năm giới của người cư sĩ, nhất là, như ông nói, kiểu dối trá hại mình, hại người, hại xã hội.
Cư sĩ áo trắng lớn tiếng:
_ Hẳn, người nghĩ ra câu nói “ngu dốt” trong đời đã dối trá điều gì đó một cách ngu ngốc nên đã gây ra một hậu quả nghiêm trọng nào đó khiến về sau cứ phải day dứt ân hận mãi về sự ngu dốt của mình.
_ Có thể lắm! Kiểu nói dối khi đứng trước tòa, nói trắng thành đen, đen thành trắng để hại người lương thiện, bao che cho bọn xấu ác, nói dối kiểu này đã không ngu dốt mà còn ma mãnh và tàn nhẫn. Nói dối kiểu này là đáng tội, cần phải tránh, khi mạng chung còn phải đọa địa ngục nữa!
_ Còn tôi chắc chắn rằng những câu nói một chiều theo kiểu “ngu dốt lớn nhất” kia không phải là của Đức Phật, của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì, thứ nhất nó không có trong Kinh điển gốc. Thứ hai nó một chiều, thiển cận, chưa phản ánh đúng thực tế.
Cư sĩ áo lam hỏi bạn:
_  Vậy theo ông, ngu dốt lớn nhất trong đời là gì?
Cư sĩ áo trắng nghiêm giọng:
_ Theo tôi, ngu dốt lớn nhất không phải trong một đời mà là trong nhiều đời chính là vô minh.
_ Đồng ý! Còn ngu dốt lớn thứ hai là gì?
_ Là không biết phân biệt đúng sai, phải trái, thật giả, chánh tà, thắng liệt!
_ Lành thay! Tôi cũng đồng ý luôn!
Cư sĩ áo trắng chép miệng:
_ Mọi người không chịu căn cứ vào kinh điển gốc, không chịu suy tư cẩn thận, cứ tin bừa tín ẩu, nghe sao tin vậy nên tin ngay những câu nói vô lý, vô căn cứ là của Phật để rồi mang lấy tà kiến.
 Cư sĩ áo lam gật đầu tâm đắc:
_ Và đó cũng là ngu dốt lớn thứ ba. Lành thay! Ông đã có ba điều răn chí lý rồi đấy!
CƯ SĨ ÁO TRẮNG

BỒ TÁT CON KÍNH PHÁP SƯ ĐẠI THỪA MÙ QUÁNG NHƯ BÀ LA MÔN THỜ LỬA


Nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 46
“46.- GIỚI THUYẾT PHÁP KHÔNG ÐÚNG PHÁP
Nếu Phật tử, thường nên có lòng đại bi phát tâm giáo hóa. Lúc vào nhà đàn hội sang giàu, cùng trong tất cả chúng hội, không được đứng thuyết pháp cho hàng bạch y. Phải ngồi trên tòa cao trước chúng bạch y. Vị Tỳ kheo Pháp sư không được đứng dưới đất thuyết pháp cho tứ chúng. Khi thuyết pháp, vị Pháp sư ngồi tòa cao, dùng hương hoa cúng dường, còn tứ chúng, hàng thính giả, thời ngồi dưới. Ðối với Pháp sư phải như là hiếu thuận cha mẹ, kính thuận Sư trưởng như Bà La Môn thờ lửa. Nếu Phật tử thuyết pháp mà không đúng như pháp thời phạm “khinh cấu tội”.”
PHÂN TÍCH PHẢN BIỆN
Giới 46 phải sửa lại cho đúng ‘Giới thuyết pháp không đúng theo phép’. Trong luật Patimokkha gốc có cả một chương về ‘thuyết pháp’, với những quy định cụ thể: thời gian, nơi chốn, đối tượng, trường hợp nào được hay không được thuyết pháp. 
Đáng tiếc thay, ngay trong truyền thống Nguyên thuỷ cũng không còn giữ nghiêm những luật nghi này, cho nên trong một số hội chúng đã có những biểu hiện coi thường Pháp và người thuyết Pháp.
Trong khi đó, Bồ-tát giới mới chỉ học mót được vài điều nhưng tích cực bắt chước, khoa trương thêm (để thoả mãn tính tự cao tự đại của ‘đại pháp’). Ví dụ như Pháp sư phải ngồi trên toà cao, không được đứng, phải có hương hoa cúng dường. 
Điều này lại gây ra một phản tác dụng là nhiều người đã tôn sùng Pháp sư một cách cuồng tín, không hề cảnh giác, giống như các Bà-la-môn thờ lửa. Chi tiết này càng cho thấy Bồ-tát giới là sản phẩm của các tổ sư gián điệp gốc Bà-la-môn.
Như đã nói ở trước, Bồ-tát con vô phúc gặp phải pháp sư ma mãnh, khéo lừa gạt, mà cứ cúc cung kính thuận như Bà-la-môn thờ thần Lửa, có ngày lao đầu vào lửa như thiêu thân, hoặc bán thân, bán con cái không chừng.
Gọi Đại Thừa giáo là Đại Thừa Bà-la-môn giáo cũng chẳng có gì sai.
NGHIÊN CỨU LUẬT HỌC

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2018

BỤT A HÀM CHỬI NGƯỜI VÔ LÝ


DẪN: Trong chánh kinh Pali, Đức Phật luôn nhắc nhở Phật tử phải biết sợ hãi những điều đáng sợ hãi (sợ hãi việc ác, nhân quả, phá giới, địa ngục...), và không sợ hãi những việc không đáng sợ hãi (ví như mê tín dị đoan, lời đồn nhảm...)

Thế nhưng trong A Hàm cải biên, Bụt Đại Thừa thật vô lý, chửi đệ tử và thiên hạ một cách hàm hồ. So sánh hai bài kinh tương trong Pali và A Hàm sẽ thấy

Phân tích so sánh
Chánh kinh "Đa Giới" (số 115, Trung Bộ Pali)vàTà kinh "Đa Giới" (số 181, Trung A Hàm)
Chánh kinh Pāli: “Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: -- “Này các Tỷ-kheo”. – “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí (pandita). Phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí…”
Tà kinh A Hàm: Rồi Tôn giả A-nan vào lúc xế chiều, từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật, rồi đứng sang một bên, bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, hôm nay con một mình trong tịnh thất, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi lên ý nghĩ này: “Những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ”.
Thế Tôn nói rằng: “Thật vậy, A-nan, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.”
Phân tích: Ở đây, không phải vô cớ các dịch giả gián điệp hoán chuyển người nêu vấn đề: một đàng trong Pāli Phật chủ động chỉ dạy cho các Tỳ-kheo, còn trong A Hàm là ông A-nan bạch với Phật.
Và hầu hết trong tà kinh A Hàm, rất nhiều lần Bụt A Hàm chỉ biết nói theo đệ tử hoặc người khác một cách vô lý, chứ không chủ động dạy dỗ thích đáng như vị Thầy Trời Người trong Pāli!
Muốn biết tường tận hãy cẩn thận so sánh tiếp…
***
Chánh kinh Pāli: “Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: -- Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu?”
-- Cho đến khi, này Ānanda, Tỷ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi và thiện xảo về xứ phi xứ, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”.”
Tà kinh A Hàm: “Này A-nan, trong thời hiện tại, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
“Này A-nan, đó gọi là, ngu si có sợ hãi, trí tuệ không sợ hãi; ngu si có vấp ngã, tai hoạn, ưu não; trí tuệ không có vướng tai hoạn, ưu não.
“Này A-nan, những ai có sợ hãi, vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng có thể tìm thấy nơi ngu si chứ không phải nơi trí tuệ.
Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nan buồn rầu, khóc lóc, nước mắt chảy, chấp tay hướng về Đức Phật, bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo ngu si, không phải trí tuệ?”
Thế Tôn đáp rằng: “Này A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào không biết giới, không biết xứ, không biết nhân duyên, không biết thị xứ phi xứ. A-nan, Tỳ-kheo như vậy là ngu si, không phải trí tuệ”.”
Phân tích: Trong Pali, sau khi nghe Phật dạy xong ngài Ananda mới thưa hỏi tiếp.  về vị ‘Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu’. Và Đức Phật đã trả lời đầy đủ.
Trong khi Chánh kinh Pāli ngài A-nan hỏi về vị “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu" và câu trả lời của Phật là sự chỉ dạy xác đáng, cụ thể.
Trái lại với câu hỏi và câu trả lời trong A Hàm tức khắc biến rất nhiều người trở thành ngu si, không có trí tuệ vì cái tội “không biết giới, không biết xứ, không biết nhân duyên, không biết thị xứ phi xứ”. Những ai là Phật tử biết được những điều này? Hẳn nhiên những người ngoài Phật giáo làm sao biết được. Tất cả họ cũng bị Bụt A Hàm rủa là ngu chăng?
Mọi người biết điều này có tức Bụt A Hàm và Phật giáo không? Mấy kẻ gian manh sàm tấu điều này cho các vua quan không ưa Phật giáo thời các Tăng Ni có được yên với họ không? Biết bao lời ca ngợi, tôn vinh của mấy ông con Phật dành cho các tổ sư gián điệp gốc Bà-la-môn có trở nên “ngu si, không phải trí tuệ” không?
Chắc hẳn ông A-nan A Hàm đã dự cảm trước điều về điều này cho nên ông vừa nghe Phật nói xong về sự sợ hãi vì ngu si nên mới “buồn rầu, khóc lóc, nước mắt chảy”? Các dịch giả A Hàm gắn thêm những giọt nước mắt này cho ông A-nan chẳng khác nào tố cáo chính ông là đối tượng của câu quở trách nên mới sầu khổ, sợ hãi như thế.
Nhưng ông Bụt A Hàm cũng ác quá, nói chi cho đệ tử phải “buồn rầu, khóc lóc, nước mắt chảy”. Hay Bụt A Hàm không có Tha Tâm Thông, không biết tâm địa của đệ tử nên vẫn vô tâm nói chạm đúng tâm can của ông A-nan khiến ông phải rơi lệ? Những ai tin A Hàm nghĩ kiểu nào cũng kẹt và oan cho thầy trò Cù-đàm. Nói oan vì trong Pali, Đức Phật và ngài Ananda không bao giờ có thái độ hành vi như vậy.
Thế mới biết, một mũi tên bịa đặt chỉ cần bẻ ngoặt theo chiều hướng khác là bắn được một lúc hai con chim lớn và một loạt các con chim nhỏ tin theo. Mấy kẻ bóp méo kinh văn Nguyên Thủy và tin theo A Hàm cải biến hẳn đều thuộc loại có “trí tuệ không sợ hãi” địa ngục là gì!
***
Chánh kinh Pāli: “Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện này không có xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra…" (Tương tự với khẩu ác hành, ý ác hành. Ks CTD)
Tà kinh A Hàm: “A-nan, nếu ai có thân ác hành, khẩu và ý ác hành mà thọ lạc báo, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai có thân ác hành, khẩu và ý ác hành mà thọ khổ báo, trường hợp này tất có.
“A-nan, nếu ai có thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành mà thọ khổ báo, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai có thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành mà thọ lạc báo, trường hợp này tất có.”
Phân tích: Trích đoạn kinh Pāli trên là lời dạy hợp lý của Đức Thế Tôn: nói chung một thân-khẩu-ý ác phải sanh ra quả báo bất an khổ lụy, tuy nhiên có khi do nhân quả dị thục không cùng thời nên dùng từ “có thể”là xác đáng.
Ngược lại điều cải biên của A Hàm không đúng hoàn toàn với thực tế khiến câu khẳng định của Bụt A Hàm trở nên phi lý và phiến diện.
Một ông vua không tin Phật đang được các cung phi hầu hạ, ra lệnh bắt mấy ông sư bà ni ra đánh đòn rồi hỏi: “Ta đánh đập các ngươi nhưng Ta có hoàn toàn đang hưởng lạc thọ được không? Các ngươi có thân, khẩu, ý diệu hành có hoàn toàn thọ lạc báo không?”. Hẳn các ông sư bà ni tin A Hàm chỉ còn có nước cúi đầu im lặng.
***
Chánh kinh Pāli: (Không có đoạn tương đương)
Tà kinh A Hàm: “A-nan, nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, không tu bảy giác ý, không chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác mà đạt đến khổ biên, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, an trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, tu bảy giác ý, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác, đạt đến khổ biên, trường hợp này tất có.”
Phân tích: Nếu ai hiểu và tin đoạn kinh A Hàm bịa thêm này mà còn muốn tu theo Phật giáo, trường hợp này hoàn toàn không có.
Thật vậy, theo A Hàm, không có trường hợp này: một kẻ không tu Bốn Niệm Xứ, không tu Bảy Giác Ý, không chứng vô thượng Chánh Đẳng Giác theo ông Phật mà đạt đến khổ biên (hay khổ vô biên?) Vì sao? Vì cũng theo A Hàm, trường hợp này có xảy ra: một kẻ nào tu Bốn Niệm Xứ, tu Bẩy Giác Ý, chứng vô thượng Chánh Đẳng Giác theo ông Phật, kẻ ấy đạt đến khổ biên.
Nếu ai thọ trì kinh A Hàm này mà còn tin theo mấy ông giả sư gián điệp để đạt đến khổ biên mới thực sự khùng lạ, trường hợp này có xẩy ra.
***
Chánh kinh Pāli: “Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: 
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp môn này có tên gì?
-- Do vậy, này Ānanda, Ông hãy thọ trì pháp môn này là Ða giới, hãy thọ trì pháp môn nầy là Bốn chuyển (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Pháp kính (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Trống bất tử, hãy thọ trì pháp môn này là Vô thượng chiến thắng.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”
Tà kinh A Hàm: “Thế Tôn đáp:
“Này A-nan, hãy thọ trì pháp này, là đa giới, pháp giới, cam lộ giới, đa cổ, pháp cổ, cam lộ cổ, là pháp kính, là tứ phẩm. Do đó kinh này được gọi là Đa Giới”.
Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.”
Phân tích: Các dịch giả A Hàm chuyển tải ý nghĩa tài tình thật: từ “Trống bất tử” của Phật biến cải thành pháp “đa cổ, pháp cổ, cam lộ cổ”. “Tiếng trống” của Phật trở thành “cổ lỗ xỉ” rồi làm sao bất tử được!
- Cuộc đối thoại riêng giữa Đức Phật và tôn giả A-nan sao lại có các Tỳ-kheo chen vào? Những Phật tử nghiêm túc có dễ dãi chấp nhận một bộ Thánh Kinh với nhiều những sơ sót ấu trĩ như vậy không? - Hẳn là không!
Có bài kinh nào trong Pāli chánh gốc lại có chuyện “các Tỳ-kheo hoan hỷ” vô lý như A Hàm không? - Cũng không, trừ khi cũng bị cải biến.
PHẬT HỌC CHUYÊN SÂU

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

TRÍ KHẢI DẠI SƯ CỦA THIÊN THAI TÔNG VÀ CÁI KẾT ĐẮNG LÒNG


Dại Nhân: _ Này Tiểu Thiên, ngươi phải biết ngài “Chí Khởi” Đại Sư đã phân chia 45 năm giáo hóa của Phật thành năm thời kỳ thế này:
“Mười hai A Hàm, Phương Ðẳng tám,
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã
Hoa Nghiêm đầu tiên ba bảy ngày
Pháp Hoa, Niết Bàn cộng tám năm”.
Tiểu Thiên: _ Thế à. Vì sao cần phải biết?
Dại Nhân: _ Vì buổi đầu tiên Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm quá cao siêu, chỉ có hàng Bồ-tát mới hiểu nổi. Các Tỳ-kheo Thanh Văn như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-nan dự hội cứ như người mù câm điếc, chẳng hiểu gì cả. Cho nên sau đó Đức Thế Tôn mới giảng kinh thấp cho những kẻ căn cơ thấp kém như các ngươi chứ sao!
Tiểu Thiên: _ Đại sư ‘Chí Khởi’ căn cứ vào đâu để phân chia như vậy? Những ai tin lời nói khơi khơi của kẻ sống sau Phật cả ngàn năm, coi chừng còn tệ hơn người mù câm điếc.
Dại Nhân: _ Hừ, ngươi đi tìm Ngài mà hỏi các căn với cứ? Còn ta theo “Trung Quốc Phật Giáo” tập 3 của ngài Cao Quán Như viết rằng trong phẩm "Thế Chủ Diệu Trang Nghiêm" của kinh Hoa Nghiêm ghi rõ: sau khi đức Phật thành đạo dưới cội Bồ-đề, trong 37 ngày đầu tiên ấy, đức Phật đã nhập Hải Ấn đại định, hiện Đại Nhật Pháp thân (Vairocana: Tỳ-lô-xá-na) thuyết pháp cho các hàng Bồ-tát từ Sơ địa (Hoan hỷ địa) trở lên số nhiều như vi trần để vào bất thối chuyển…
Tiểu Thiên: _ Tôi hỏi ông: Nếu kinh Hoa Nghiêm thuyết trong 37 ngày đầu tiên, ngay sau khi Phật vừa thành đạo, lúc này năm anh em Kiều Trần Như còn chưa có, vậy tại sao trong hội Hoa Nghiêm lại có các Thanh Văn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan… dự hộiHoa Nghiêm lấy đâu ra các vị Thánh Tăng A-la-hán để cho các ông hùa nhau phỉ báng? Không những thế, trong tài liệu ông vừa nóicòn ghi rõ: trong hội Hoa Nghiêm thứ chín ở rừng Thệ Đà có tới sáu ngàn Tỳ-kheo Thanh Văn cùng Ngài Xá Lợi Phất phải nhờ thần lực của Phật để đi về phương Nam (?) Trời đất, Phật vừa mới chứng đạo 37 ngày, một Tỳ-kheo còn chưa có, lấy đâu ra sáu ngàn ông đệ tử Tiểu Thừa “có mắt như mù, có tai như điếc” chứ hả? Rõ ràng chỉ có kẻ bịa ra ngụy kinh Hoa Nghiêm và những ai tin nó mới thật sự điếc - câm - mù.
Chuyện bịa cứ như đùa được các tổ sư gốc Bà-la-môn vẽ bừa ra để bôi nhọ, xuyên tạc các Thánh Tăng của Đạo Phật, đến đứa con nít có trí khôn một chút cũng không tin nổi; vậy mà qua hàng ngàn năm đã có biết bao tổ sư, tu sĩ cứ “y tín bất y trí” những điều vớ vẩn ngụy trá điên khùng như thế. Thật đáng thương mà cũng đáng trách lắm thay!
Dại Nhân: _ Ơ… nhưng… vì hội Hoa Nghiêm quá cao siêu bất khả tư nghì, thời gian không gian chỉ như hạt cải đầu kim! Ngươi biết gì mà nói!
Tiểu Thiên: _ Những tên gián điệp đại bịp có biết phán như thế không để lường gạt những kẻ nhẹ dạ tin theo ngụy kinh của chúng? Giả sử, bây giờ có kẻ đưa ra cuốn “kinh” Nghiêm Hoa siêu thừa và cũng nói y như vậy để phủ định Đại Thừa và Hoa Nghiêm của các ông. Thế nhưng, vài trăm năm sau vẫn có kẻ tin theo và coi khinh Hoa Nghiêm cùng Đại Thừa giáo. Thử hỏi, những kẻ hậu sanh này có ngu muội không?
Dại Nhân: _ Có thể Hoa Nghiêm được Phật thuyết giảng lâu dài mãi tận sau này thì sao?
Tiểu Thiên: _ Nếu thế, tại sao trong kinh điển gốc Nikāya ghi chép đầy đủ tất cả các sự kiện lại không có một dòng nào nhắc đến “pháp hội” đặc biệt này? Thôi đi ông ơi, các ông và cả dại sư của các ông đã bị các luận sư gốc Bà-la-môn vẽ vời xí gạt mà không biết.
Chuyện “dấu đầu hở đuôi, dấu đuôi hở đầu” rành rành như thế mà còn khoe khoang, rêu rao hý luận, thực không biết xấu hổ là gì. Phật không thuyết mà bảo Phật thuyết, tội này được xếp vào phá hoà hợp Tăng cũng bị đoạ địa ngục vô gián đấy. Liệu chừng mà tin!!
TIỂU THIÊN TĂNG

BỒ TÁT CON VÂNG THEO BỒ TÁT GIỚI SỚM ĐI GẶP DIÊM VƯƠNG VÀ BỊ CHÊ CHƠI DẠI


Nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 45
“45.- GIỚI KHÔNG GIÁO HÓA CHÚNG SINH 68
Nếu Phật tử, nên có lòng đại bi, khi nào trong tất cả nhà cửa thành ấp, thấy những loài chúng sinh, phải xướng lên rằng : «Các người đều nên thọ tam quy và thập giới». Nếu gặp trâu, bò, chó, ngựa, heo, dê v.v... nên tâm nghĩ miệng nói: «Các người là súc sanh phát Bồ đề tâm». Khi Phật tử đi đến núi, rừng, sông, đồng nội cùng tất cả chỗ, đều làm cho tất cả chúng sanh phát Bồ đề tâm. Nếu Phật tử không phát tâm giáo hóa chúng sinh, thời phạm “khinh cấu tội”.”
Chú thích 68 (trang 37 trong sách Bồ-tát giới):  “Thuyết pháp cho loài súc sanh cũng có lợi ích, vì ảnh hưởng của tâm lực (tư tưởng), nên trong văn có câu: “Tâm nghĩ miệng nói (nên chú ý hai chữ “tâm nghĩ”), và hoặc giả, có loài nhận được lời, hay hiểu ý của người. Lưu Thủy trưởng giả với mười nghìn con cá mắc cạn, tôn giả Xá Lợi Phất với con chó bị chặt chưn, v.v… là những bằng cớ cho vấn đề này.
Phân tích phản bác
Bồ-tát giới lại chơi khăm xúi dại con Bụt! Tại những trú xứ toàn kẻ hung ác, Bồ-tát con bạ đâu xướng đó ‘Các người đều nên thọ tam quy và thập giới’, không sớm thì muộn họ cũng cho đi gặp Diêm Vương sớm.
Nếu gặp trâu, bò, chó, ngựa, heo, dê v.v... mà cứ lảm nhảm “Các người là súc sanh phát Bồ đề tâm”’, không khéo những những đứa con nít tỉnh táo lại cho là kẻ tâm thần cũng nên. Chúng lại tủm tỉm kháo nhau ‘Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã’, chỉ có súc sanh mới hiểu được súc sanh, mới phát Bồ-đề tâm’ theo nhau, lúc ấy xem ai ngu dại cho biết.
Việc các con thú trong rạp xiếc biết làm trò theo hiệu lệnh của người huấn luyện không có nghĩa là chúng hiểu được tiếng người. Đó chỉ là những phản xạ có điều kiện, được lập đi lập lại nhiều lần thành thuần thục. Đây không phải là ‘ảnh hưởng của tâm lực’ như chú thích 68 vẽ vời. 
Trong tam tạng cải biến có vô vàn những tích truyện vô lý, phi pháp được các gián điệp vẽ ra để làm ‘bằng cớ’ cho tà pháp cải biến. Nhắm mắt tin vào những ‘bằng cớ’ này chẳng khác nào như thiêu thân lao đầu vào lửa.
Cũng may, Bồ-tát con nếu không y theo Bồ-tát giới, cũng chỉ phạm tội nhẹ. Nếu không, lắm Bụt tử tin theo đây thực hành rốt ráo, Đại Thừa giáo lại có thêm những ‘thánh tử đạo - thiêu thân’ cùng những kẻ tâm thần thì khốn.
NGHIÊN CỨU LUẬT HỌC

TĂNG NI THEO PHẬT HAY THEO BẰNG CẤP???


NGỤY KINH A HÀM CHỈ DẠI TÀO LAO


PHÂN TÍCH SO SÁNH 2 BÀI KINH TƯƠNG ĐƯƠNG
TRONG PALI VÀ A HÀM
Chánh Kinh "Sáu Thanh Tịnh" (số 112, Trung Bộ Pali) và Ngụy kinh "Thuyết Trí" (số 187, Trung A Hàm)
Chánh kinh Pāli: “Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo, "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau: "Ta tuệ tri như vầy: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"". Này các Tỷ-kheo, lời nói của vị Tỷ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không nên bác bỏ.”
Tà kinh A Hàm: Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng: “Nếu các Tỳ-kheo nào đến trước các ngươi nói lên trí mà mình đã chứng đắc, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Các ngươi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.”
Phân tích So sánh: 
Điều răn dạy trong Pāli càng hợp lý bao nhiêu thì trái lại A Hàm lại vô lý bấy nhiêu. Theo Kinh Pāli Sáu Thanh Tịnh, khi vị Tỳ-kheo nghe một Tỳ-kheo khác nói rằng vị ấy đã đạt chánh trí, vị Tỳ-kheo nghe được vậy không tán thán cũng không nên bác bỏ mà phải suy xét cho kỹ, cân nhắc cho chắc xem có đúng hay không.
Ngược lại, theo A Hàm, nếu gặp những kẻ thích nói láo, vọng ngữ, nói càn nói bậy, tự mạo nhận “đã chứng đắc” thì “các ngươi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành” hay sao? Các nhà cải biên kinh A Hàm ‘chỉ dại’ kiểu này có chết các con Phật không? Thưa, không chết mà chỉ khốn khổ khốn cùng thôi.
Các dịch giả A Hàm đã cố tình cải biên điều hữu lý thành quá ư vô lý. Ác độc thay họ lại gắn nó vào miệng Bụt A Hàm! Mà Bụt A Hàm cũng lạ thật, cứ thích đi du hoá trong vườn ông Cấp Cô Độc là sao? Kinh Pali không bao giờ như vậy!
PHẬT HỌC CHUYÊN ĐỀ