Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

GIỚI BỒ TÁT TÀ PHƯỚC TÀ HUỆ


Nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 39
“39.- GIỚI KHÔNG TU PHƯỚC HUỆ 63
Nếu Phật tử thường phải khuyến hóa tất cả mọi người kiến tạo tăng phường nơi núi rừng vườn ruộng, xây dựng Phật tháp, chỗ an cư, tọa thiền trong mùa Ðông mùa Hạ, tất cả những cơ sở hành đạo đều nên kiến tạo. Người Phật tử phải giảng thuyết kinh luật ĐẠI THỪA cho tất cả chúng sanh. Lúc tật bệnh, nước có nạn có giặc, ngày cha, mẹ, anh, em, Hòa Thượng, A Xà Lê khuất tịch, và mỗi tuần thất, nhẫn đến bảy tuần thất, cũng nên giảng thuyết kinh luật ĐẠI THỪA. Tất cả những trai hội cầu nguyện, những lúc đi làm ăn, những khi có tai nạn lụt, bão, hỏa hoạn, ghe thuyền trôi giạt nơi sông to biển lớn, gặp quỷ La sát v.v... đều cùng đọc tụng kinh luật ĐẠI THỪANhẫn đến tất cả tội báo, tam ác, bát nạn, thất nghịch gông cùm xiềng xích trói buộc tay chân, hoặc ngưòi nhiều dâm, nhiều sân, nhiều ngu si, nhiều tật bệnh, đều nên giảng kinh luật ĐẠI THỪAnầy. Nếu hàng tân học Phật tử không thật hành như trên đây, thời phạm “khinh cấu tội”.”
Chú thích 63 (tr.36):  “Là Phật tử phải nhận chơn những tai nạn, họa phước và sự lợi ích. Họa hay phước là do nghiệp ác hay thiện chiêu cảm. Nghiệp từ nơi tâm mà phát khởi. Kinh luật ĐẠI THỪA có năng lực chuyển tâm ô trược thành thanh tịnh, chuyển tâm ác thành tâm thiện, chuyển tâm si mê thành tâm giác ngộ. Đọc tụng giảng thuyết kinh luật ĐẠI THỪA là một thiện nghiệp cao quý. Vì thế nên có thể làm cho người chết, vong linh được siêu sanh, ngưòi gặp tai nạn được qua khỏi. Có thể ngừa những sự không may và đem hạnh phúc đến. Phật tử bao giờ cũng phải có tín tâm sâu mạnh nơi năng lực của giáo pháp ĐẠI THỪA, bao giờ cũng lấy sự giải nguy, cứu khổ làm phận sự, nên bổn phận của Phật tử phải giảng kinh luật ĐẠI THỪA trong những trường hợp có tai biến xảy đến cho người hay cho mình. 
PHÂN TÍCH PHẢN BIỆN
Cần nhắc lại, trong phần Dẫn nhập của Bồ-tát giới có nói rõ 'Phật Thích Ca' ban Bồ-tát giới lúc vừa thành đạo, còn ngồi bên dòng sông Ni-liên- thuyền. Lúc này hội chúng chưa có một ai, ấy thế mà Bồ-tát giới khuyên tu theo Đại Thừa, là danh xưng hàng trăm năm sau khi Phật nhập diệt!!!
Rõ ràng chỉ bấy nhiêu cũng đủ biết kẻ vẽ ra Bồ-tát giới là người đời sau, muốn phá hoại Phật Giáo Nguyên Thủy Nhị Thừa. Chỉ có ngu si cùng tận mới không nhận thức được việc này. Chưa hết...
Bồ-tát giới chỉ nói ‘tọa thiền trong mùa Ðông mùa Hạ’, còn mùa Xuân, mùa Thu không tọa thiền ư? Luật của bậc Thánh không thể dễ duôi nói sao cũng được.
Nếu nói mùa Đông lạnh, mùa Hạ nóng cần có chỗ thích nghi tu thiền thì thua các vị Tỳ-kheo Thanh Văn Nhị Thừa rồi. Các vị này lấy gốc cây làm nhà, lấy hang đá làm cốc, chứ cần chi thiền viện. Vì sao? Vì ‘tất cả những cơ sở hành đạo’ dù to lớn đến đâu cũng vô thường biến hoại, chính vì thế nếu không dốc lòng lo tu tập, chỉ thi nhau kiến tạo chùa to viện lớn, khi vô thường đến phải biến thành những con dã tràng xe cát biển đông.
Lúc có giặc giã, bão lụt, hoả hoạn mà ngồi đó tụng niệm thì nhiệm màu đâu không thấy, chỉ thấy có chết oan. Trong thời kỳ Phật giáo bị tận diệt, hàng triệu người tụng kinh luật Đại Thừa sao vẫn chết oan? Có vị nào hồi sinh để kiện kẻ vẽ ra Bồ-tát giới? Còn trong tai nạn nếu vài người được may mắn sống sót, thế là tất cả tung hô Bồ-tát linh thiêng, Bụt Bà linh ứng. Những kẻ yếu bóng vía đều tin ngay răm rắp và quên rằng có biết bao những kẻ khác cũng cầu nguyện Bụt, Bồ-tát nhưng tất cả đều một đi không trở lại.
Ai yếu bóng vía cứ lấy kinh luật Đại Thừa mà tụng cho những kẻ diệt chủng ‘thất nghịch gông cùm xiềng xích trói buộc tay chân’ xem có tên nào nhờ thế được phóng thích. Nếu kinh luật Đại Thừa thực sự có oai linh cứu thoát mọi tội lỗi, như vậy còn gì là công bằng nhân quả? Còn gì là công lý nhân bản?
Còn chuyện ‘Kinh luật Đại thừa có năng lực chuyển tâm ô trược thành thanh tịnh, chuyển tâm ác thành tâm thiện, chuyển tâm si mê thành tâm giác ngộ’ có thật không, xin mời các bậc thiện trí thức đọc kỹ kinh luật Đại Thừa khắc rõ. Ở đây chỉ nêu vài ví dụ điển hình:
- Trích phẩm “Hạnh nguyện Phổ Hiền”, kinh đại thừa Hoa Nghiêm: “Đối với mười đại nguyện này, có ai đem lòng tin sâu xa mà tiếp nhận, ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng đọc thuộc lòng, cho đến chỉ sao chép được một bài chỉnh cú bốn câu, cũng mau chóng diệt được năm tội vô gián”. (Bản dịch của HT Thích Trí Quang).
Theo lời nguyện trên, những ai sao chép bài chỉnh cú bốn câu Hoa Nghiêm này sẽ không còn sợ năm tội vô gián: giết mẹ, giết cha, giết A La Hán, làm Phật chảy máu, phá hoà hợp Tăng gì nữa ư? Đấy là ‘năng lực chuyển tâm ô trược thành thanh tịnh’ của kinh luật Đại Thừa sao?
Nguyện thứ 20 của Bụt A Di Đà: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi, và tu các công đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về cõi nước tôi, nếu chẳng được toại nguyện, thời tôi không ở ngôi Chánh giác. (Nguồn Internet)
Chiếu theo nguyện trên, những người nổi tiếng dâm ác như “Lão Phật gia” Từ Hi Thái Hậu có thừa điều kiện được độ thoát về Tây phương Cực lạcCòn biết bao các nạn nhân thiện lành nhưng không biết niệm A-di-đà ráng chịu. Trong 48 đại nguyện, ngài A Di Đà đều quên phát nguyện cứu họ. Đấy là ý nghĩa chuyển tâm ác thành tâm thiện của kinh luật Đại Thừa ư?
-  Trích kinh Dược Sư, nguyện thứ mười của Bụt Dược Sư: “Nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì những kẻ bị phép vua ghi sổ, xích trói đánh khảo, giam nhốt lao ngục, sắp bị hành hình, cộng với vô lượng tai nạn khổ nhục và bi thảm sầu muộn khác nữa, ngâm nấu bức bách, làm cho cả cơ thể lẫn tâm trí đều chịu thống khổ, nhưng nghe danh hiệu của con, thì vì năng lực phước đức và uy thần của con mà họ thoát hết mọi sự lo sợ khổ sở.” (Nguồn Internet)
Chiếu theo nguyện trên, các vị muốn lợi tha cứ vào các trại tù, tụng hồng danh Bụt Dược Sư để cứu rỗi những kẻ ác giải thoát. Họ có ra ngoài tạo tội vào tù trở lại cũng không còn phải lo sợ khổ sở gì nữa. Đấy gọi là ‘chuyển tâm si mê thành tâm giác ngộ’ của kinh luật Đại Thừa.
Trên đây chỉ trích dẫn vài ví dụ thôi, không sao nói hết được. Tam tạng Đại Thừa giáo là cả một kho cứu khổ, giải nguy’ cho biết bao tội nhân, ác hạnh, phá giới, nghịch hạnh?!
Tuy Đại Thừa giáo tà vạy như vậy, thế nhưng vẫn còn một số kẻ tin theo. Đó không phải do Đại Thừa có điều gì cao siêu tốt đẹp, mà do các tổ sư gián điệp tinh ma biết giả danh Phật Thích Ca, biết mạo danh pháp của Phật Thích Ca, biết giả danh là con Phật Thích Ca, có vậy họ mới lôi cuốn được những người mất cảnh giác.
Các tổ sư gián điệp dựa vào một số pháp căn bản của Phật giáo (ví dụ như năm giới, Từ Bi Hỷ Xả, bố thí, ly dục...), sau đó họ cải biên cấy ghép thêm vào các tà pháp một cách khéo léo, khiến những người ngây thơ tưởng lầm tất cả những pháp cải biến thêm vào đều là pháp của Phật Thích Ca. Từ đây các Bụt tử Đại Thừa mới bị dẫn dắt theo một mê lộ khác, trái ngược với tinh thần gốc, tự cao với pháp luật mới, quay lại khinh chê pháp luật chính gốc.
Đây chính là kế sách gián điệp và thủ đoạn ‘dùng vũ khí người để giết người’. Chỉ có như vậy các luận sư ngoại học thâm độc mới có thể phá hoại được Phật giáo.
TẬP SAN LUẬT HỌC

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

TÀ DUYÊN KHỞI

HỎI: Có người cho rằng trong Pháp 12 Nhân Duyên, mỗi một chi phần bao gồm tất cả 11 chi phần còn lại. Do đó, chỉ cần đoạn diệt một chi phần là toàn bộ khổ uẩn cũng được diệt tận. Quan niệm như vậy có đúng không?   
LUẬN SƯ ĐẠI THỪA trả lờiĐúng vậy! Một người ngủ say, sáu thức gồm nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý thức ngưng hoạt động; điều này có nghĩa chi phần “Thức” diệt.  Khi ngủ say, người ta sẽ không có “hành”, không “thọ”, không “ái”, không “thủ”, không “hữu”, không “sanh”; chỉ “già” một chút, nhưng không “khổ”. Như vậy, các chi phần khác cũng được diệt trừ.
Quan niệm như thế sẽ là phương pháp luận cơ bản cho một phương thức căn bản: ngủ nhiều (xúc diệt nhiều) là phương cách hữu hiệu để phá vỡ khối khổ uẩn của 12 Nhân Duyên. Lại nữa, quán nhân duyên như vậy sẽ thấy rõ, một kẻ dù gây nhiều ác nghiệp, nhưng khi chết, không những chỉ có chi phần “Thức” diệt mà các chi phần “Vô minh, Hành, Danh-Sắc, Xúc…Sanh, Già-Chết” cũng diệt hoàn toàn. Kẻ ác nhân đó có thể thở phào nhẹ nhõm “Sanh đã tận, ác hạnh đã thành, những việc phải làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vô phân biệt như thế mới là rốt ráo.
TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG trả lời: Đúng thế! Giới luật có, trí tuệ có; pháp Duyên Khởi mới hiện rõ. Giới luật diệt, trí tuệ diệt, pháp Duyên Khởi cũng diệt.
-o-o-o-

HỎI: Tịnh Độ Tông và Mật Tông công phá 12 Chi Phần Nhân Duyên để diệt khổ như thế nào?
LUẬN SƯ ĐẠI THỪA trả lờiNiệm Phật, niệm chú đến nhất tâm bất loạn, lúc đó sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) không còn nhập vào sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn). Khi lục trần không còn nhập vào lục căn, điều này có nghĩa chi phần “Lục Nhập” bị phá vỡ đoạn diệt. Kết quả của nhân duyên tiếp theo là lục nhập diệt thì xúc diệt, thọ diệt, ái diệt, thủ diệt, hữu diệt, sanh diệt, cuối cùng già chết diệt. Thiết lập nhân gian tịnh độ, Tây Phương Cực Lạc hiện tiền.
TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG trả lờiNhưng vô minh còn thì hành còn. Hành còn, thức còn. Thức còn, danh-sắc còn. Danh-sắc còn…Lục Nhập còn… Ái còn…Thủ còn…Sanh còn và già chết vẫn còn. Khổ đau vẫn còn y nguyên.
-o-o-o-

HỎI:  Duy Thức Tông công phá 12 Chi Phần Nhân Duyên để diệt khổ như thế nào?
LUẬN SƯ ĐẠI THỪA trả lời: Đạt tới A-lại-da-thức thì thức diệt. Thức diệt, danh-sắc diệt. Danh-sắc diệt, sáu xứ diệt. Sáu xứ diệt, xúc diệt. Xúc diệt thời thọ diệt, ái diệt, thủ diệt, hữu diệt nên sanh diệt. Sanh diệt thì già chết cũng diệt. Vì vậy, duy thức thị nghiệp. Thậm chí có người còn lớn tiếng “Phi duy thức bất thành Phật pháp” nữa kia.                
TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG trả lời: Nhưng vô minh còn thì hành còn. Hành còn thì thức còn. Thức còn, danh-sắc còn…Lục nhập còn…Ái còn…Thủ còn…Sanh còn và già chết vẫn còn.
-o-o-o-

HỎI: Thiền Tông công phá 12 Chi Phần Nhân Duyên để diệt khổ đau như thế nào?
LUẬN SƯ ĐẠI THỪA trả lờiHành thiền đến đại ngộ, triệt ngộ để minh tâm kiến tánh. Minh khởi thì vô minh diệt. Vô minh diệt thì hành diệt. Hành diệt… Ái diệt… Thủ diệt... Sanh diệt thì Già Chết cũng bị diệt.
Chỉ cần hồi đầu thị ngạn tất tự tại vô ngại, thõng tay vào chợ mà an nhiên thu thần thị tịch. Tối thượng thừa thiền là thế! Lần này hết còn cái gì sanh, giải thoát là cái chắc!
TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG trả lời: Nhưng trong Kinh Nikaya, với bài Kinh Chánh Tri Kiến là điển hình đã dạy rõ: vô minh duyên cho lậu hoặc, lậu hoặc duyên cho vô minh.
Do đó, lậu hoặc còn thì vô minh còn. Vô minh còn thì hành còn. Hành còn, thức còn. Thức còn… Lục Nhập còn… Ái còn… Thủ còn… Sanh còn và già chết vẫn còn nguyên. Vì thế trong kinh Kim Cang Đại Thừa mới có câu, “Độ bao nhiêu (niệm) chúng sanh mà vẫn không thấy mình (và chúng sanh) được độ”.
Dụng bao nhiêu công phu nhưng sai đường thì tất nhiên tham-sân-si vẫn hoàn tham-sân-si. Phiền não lậu hoặc từ căn gốc nếu không đạt trí tuệ Tam Minh, thì lấy gì để diệt? Tất nhiên chúng vẫn còn y nguyên chứ mất đi đâu? Tà giải thoát là như thế!
Những ai muốn được sanh ra từ miệng Đức Thế Tôn, muốn thực sự giải thoát theo lời dạy của Ngài, hãy trai giới cho thanh tịnh rồi đọc kỹ kinh điển nguyên thủy Nikaya để biết lậu hoặc, vô minh và các chi phần của Pháp Duyên Khởi phải được đoạn diệt đồng thời, đồng bộ như thế nào và bằng cách nào.
Không nắm vững nguyên tắc cứu cánh duy nhất này, mà ảo tưởng tin theo các ông học giả hăm hở nhắm mắt tu bừa, điều này chẳng khác nào sự tinh tấn dũng cảm của hiệp sĩ Đông-ki-sốt xắn tay áo, lao đầu vào đánh nhau với cái cối xay gió.
Nhưng ngẫm cho kỹ hoá ra “Gậy Phật lại đập vào lưng các Tổ”. Vì sao? Bởi lẽ, các tổ đã không theo đúng lời Phật để đoạn diệt khổ đau; trái lại đi vẽ nhánh phân cành, chế biến thêm lắm tông nhiều phái thì hậu quả là như thế chứ sao?
Có 72 phép thần thông và láu lỉnh như con khỉ Tề Thiên còn không vượt được ra khỏi bàn tay của Đức Thế Tôn và còn bị đè dưới Ngũ Hành Sơn. Huống hồ…
Nói tóm lại, tất cả các tông phái sanh sau đẻ muộn, phân nhánh chia cành sau này, không phải dựa trên Thánh Lý Duyên Khởi để “công phá” khổ đau, mà là “tàn phá” 12 Chi Phần Nhân Duyên của Đức Phật. Dù họ có tu muôn đời cũng không giải thoát!

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU HỌC PHẬT

Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2018

ĐỨC PHẬT 'LAO ĐỘNG' VÀ SỰ ĐẦU ĐỘC CỦA CÁC BÀ LA MÔN



DẪN: Trong bài kinh "Bhàradvàja, Người Cày Ruộng" (Sn12), ghi lại trường hợp Đức Phật Thích Ca khi du hóa trong vùng Bà La Môn, Ngài không những gặp những chỉ trích, phỉ báng; mà còn có cả những thủ đoạn đầu độc sát hại tàn độc của các Bà La Môn ác hiểm.

Họ mỉa mai Phật không làm việc, không cày bừa, ăn bám; thế nhưng Phật rống tiếng sư tử chỉ rõ Ngài cũng có 'làm việc', có 'lao động', có cống hiến. Họ cúng dường sữa có độc, Ngài cũng biết và khắc chế. Cuối cùng với thần lực và đạo hạnh của mình, Đức Phật đã tế độ cho Bà La Môn Bhàradvàja.
Nhắc lại bài kinh này để khuyến cáo những ai đang cả tin một chiều vào các kinh - luật - luận Đại Thừa cải biến do các tổ sư gốc Bà La Môn truyền bá vào Đạo Phật.
(IV) Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini, trong một làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến chỗ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang làm việc. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kasibhàradvàjađang phân phát đồ ăn. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, sau khi đến, Ngài đứng một bên, Bà-la-môn Kasibhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, liền nói với Thế Tôn:
- Này Sa-môn, ta cày và ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta ăn. Và Sa-môn, hãy cày và gieo. Sau khi cày và gieo, hãy ăn!
- Này Bà-la-môn, Ta cũng cày và cũng gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn.
- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, hay cái cày, hay lưỡi cày, hay gậy thúc trâu bò, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Vậy mà Tôn giả Gotama nói: "Này Bà-la-môn, Ta có cày và Ta có gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn ".
Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja nói lên với Thế Tôn bài kệ:
Bhàradvàja:
76. Người tự nhận Người cày,
Ta không thấy Người cày,
Hãy trả lời chúng tôi,
Ðã hỏi về Người cày,
Chúng tôi muốn rõ biết,
Người cày như thế nào?
Thế Tôn:
77. Lòng tin là hột giống,
Khổ hạnh là cơn mưa,
Trí tuệ đối với Ta
Là ách và lưỡi cày,
Xấu hổ là cán cày,
Ý là sợi dây buộc,
Và niệm đối với Ta
Là lưỡi cày, gậy thúc.
78. Với thân khéo phòng hộ,
Với lời khéo phòng hộ,
Với món ăn trong bụng,
Biết tiết độ, chế ngự,
Ta tác thành chơn thực,
Ðể cắt dọn cỏ rác,
Sự giải thoát của Ta
Thật hiền lành nhu thuận.
79. Với tinh cần tinh tấn,
Ta gánh chịu trách nhiệm,
Ta tự mình đem lại
An ổn khỏi khổ ách.
Như vậy, Ta đi tới,
Không trở ngại thối lui,
Chỗ nào Ta đi tới,
Chỗ ấy không sầu muộn.
80. Cày bừa là như vậy,
Ðược quả là bất tử,
Sau cày bừa như vậy,
Mọi khổ được giải thoát.
Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja lấy một bát bằng đồng lớn, cho đổ đầy với cháo sữa dâng đức Phật và thưa:
- Thưa Tôn giả Gotama, hãy dùng cháo sữa, Tôn giả là người đi cày! Tôn giả Gotama đi cày quả bất tử!
Thế Tôn:
81. Ta không hưởng vật dụng,
Do tụng kệ đem lại,
Ðây không phải là pháp,
Của bậc có chánh kiến
Chư Phật đều bác bỏ,
Tụng hát các bài kệ,
Khi pháp có hiện hữu,
Truyền thống là như vậy.
82. Hỡi này Bà-la-môn,
Người cần phải cúng dường,
Ðồ ăn vật uống khác,
Bậc đại sĩ toàn diện,
Ðã đoạn các lậu hoặc,
Ðã lắng dịu dao động,
Ta chính là thửa ruộng,
Cho những ai cầu phước
.
- Vậy, thưa Tôn giả Gotama, con sẽ cho ai cháo sữa này?
- Này Bà-la-môn, Ta không thấy ai ở thế giới, với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, hay trên đời này với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sau khi ăn, tiêu hóa được món cháo sữa này, trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai. Vậy, này Bà-la-môn, Ông hãy đổ cháo sữa này trên chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm trong nước không có sinh vật.
Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja đem nhận chìm cháo sữa ấy vào nước không có sinh vật. Cháo sữa ấy khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Ví như một lưỡi cày, phơi cả ngày dưới ánh nắng, được đem quăng xuống nước, lưỡi cày ấy sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Cũng vậy, cháo sữa ấy, khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja hoảng hốt, rợn tóc gáy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Con xin qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp, qui y chúng Tỷ-kheo. Mong rằng con được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.
Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja được xuất gia với Sa-môn Gotama, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu, do vì mục đích gì, bậc thiên nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú cứu cánh Phạm hạnh ấy. Vị ấy thắng tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa ".
Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán.

HT Thích Minh Châu dịch Việt

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

SỰ TÍCH HAI NHỤC KẾ


Ngay từ thuở xa xưa loài bò đã được xếp vào loại thiện thú vì bản tánh hiền lành của chúng. Trong số đó, Bò Vàng vốn nổi tiếng hơn cả nhờ hạnh tu tinh cần của mình. Thế nhưng, chẳng có ai biết được tâm sự riêng của nó. Năm tháng cứ thoi đưa, nỗi buồn riêng vẫn ở lại, Bò Vàng càng lúc càng trở nên trầm tư sầu muộn. Đến nỗi giờ đây ngay cả chuyện ăn uống chay tịnh, vốn là giới hạnh ham thích và rất đỗi tự hào của mình, chàng Ngưu cũng ra chiều chán nản.
Không buồn sao được. Mười lần cả mười, khi nhớ đến các kiếp trước, Vàng đều thấy mình kiếp nào cũng ăn ngay ở lành, không hề làm hung tạo ác, một lòng tu hành nghiêm chỉnh, vậy mà nó cứ bị tái sanh đi tái sanh lại làm bò chứ nhất định không được làm người. Hỏi sao không sầu? Nghĩ sao không chán?
“Nhưng tại sao thế nhỉ? Chẳng lẽ ông Trời lại không có mắt?” Thắc mắc mãi không thôi, nghi vấn vẫn hoàn nghi vấn. Cuối cùng Bò Vàng đi đến quyết định táo bạo bất ngờ: “Thôi được, kỳ này mình phải lên tận thiên đình, gặp chính Ngọc Hoàng hỏi cho ra lẽ”. Nghĩ sao làm vậy, Bò Vàng liền so vai gượng mình đứng dậy, nhắm mắt lâm râm niệm mấy câu thần chú linh thiêng của tổ tiên nhà bò “Úm Ma Ni Xì Cù Lì Lỗ Tai Trâu”, phút chốc hồn lìa khỏi xác bay vút lên tận cung trời cao nhất.
Quỳ mọp trước bệ rồng, Bò Vàng cúc cung trình tấu:
_ Muôn tâu Thượng Đế, đã bao nhiêu kiếp con cố công tu hành nhưng sao vẫn không được làm người?
_ Ngươi tu hành như thế nào? Thượng Đế hỏi.
_ Dạ, suốt đời con chỉ quyết một lòng khổ hạnh ăn chay nằm đất, luật nghi thanh tịnh mà thôi!
Thượng Đế phì cười:
_ Hừ, ngươi xem, có con bò nào lại không tự hành khổ mình, không ăn chay, không nằm đất? Có đứa nào hiểu giới luật nào đúng, giới luật nào sai?
_ Thưa, hiểu biết làm gì cho động não. Con chỉ cần tinh tấn hành thiền, tự tại thõng đuôi ngoài ruộng là đủ.
_ Ngươi hành thiền gì?
_ Thưa, đói đến con cứ nhai, trời tối con ngủ liền, có gì phải hỏi.
_ Ngươi coi, có con bò nào lại không biết đói thì ăn, mệt ngủ khì? Tất cả chúng nó có hỏi han gì đâu?
_ Nhưng chỉ có con là tỉnh giác, không mê.
_ Này, chớ có chủ quan! Các con bò khác cũng giác tỉnh đấy chứ. Ngươi húc chúng biết la, ngươi đạp chúng biết chạy, chứ có con nào mê đâu?
_ Nhưng chỉ có con mới biết buông bỏ vọng tưởng, không phân biệt gì cả.
_ Ủa, thì các con bò khác có suy nghĩ, có vọng tưởng gì đâu? Chúng có biết phân biệt bê con hay bò mẹ, cỏ dại với lúa trồng thế nào? Không tin, ngươi quay lại nhìn chúng xem.
Bò Vàng vẫn gân cổ bướng bỉnh:
_ Nhưng duy nhất chỉ có mình con là đạt được tối thượng vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng!
Đến đây Thượng Đế cũng không còn bình tĩnh được nữa, hai tay ôm đầu hét lớn:
_ Trời ơi, muốn điên với ngươi luôn! Ta từ khi làm Ngọc Hoàng tới giờ có thấy con bò nào có niệm, có trụ, có tu, có chứng?
Bò Vàng giật thót cả người, hai mắt tròn xoe kinh hãi “Chết thật, đến Ngọc Hoàng còn phải kêu “Trời”! Chắc lại có chuyện nổ trời “big bang” gì đây?“. Bò Vàng suy nghĩ mãi không ra, chỉ một mực lắc đầu ngoạy đuôi ấm ức. Cuối cùng, không biết tính sao, nó đành dậm chân “giận cá chém thớt”:
_ Thưa, còn lũ vượn cổ kia, chúng cứ ăn thịt ngoen ngoẻn nhưng sao vẫn được tiến hóa làm người?
Thượng Đế gằn từng tiếng:
_ Này, ngươi cứ so đo với kẻ khác là đã phân biệt quá cha rồi còn gì, vô phân biệt ở chỗ nào? Bọn chúng chỉ ăn thịt chết, đã nấu chín. Chúng cũng không tự giết hoặc khuyến khích kẻ khác giết. Không có thịt chúng vẫn vui vẻ gặm hoa quả kia mà. Ăn như vậy không có nghĩa là sát sanh. Các ngươi chớ cố tâm phỉ báng kẻ khác bằng cách áp đặt vu cáo, như vậy là không tốt. Trong khi đó, ngươi cứ vô tư nhai nuốt vô số các chúng sanh li ti trong rau cỏ và nước uống, công bằng mà tính, ngươi hại mạng nhiều hơn chúng đó. Chớ có trách bừa người khác. Không khéo những đứa nô tỳ của ta lại gọi ngươi là thứ đạo đức giả nữa đấy. Cứ thế, hai bên cãi nhau rồi thưa tới kiện lui, ta mệt lắm!
_ Muôn tâu, con không dám vậy. Nhưng các sinh vật kia chúng nhỏ quá. Con không thấy, không nghe, không biết thưa ngài.
_ Chính vì thế nếu không áp dụng luật “không thấy, không nghe, không nghi”, thì chính các ngươi là những đao-phủ-ăn-chay đấy! Giới có giới đúng giới sai, giới tà giới chánh; không biết phân biệt cho đúng, chấp thủ cả những giới tà vạy, chư Phật gọi là “giới cấm thủ” đó! Các ngươi chớ vội kiêu ngạo, chớ vội phỉ báng kẻ khác ăn thịt là không biết tu hành, là ngu như... bê bú bình để rồi khẩu nghiệp chuyển qua thân nghiệp. Mà “đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”.
Bò Vàng rúm đầu rụt cổ, liếm môi liếm mép, đung đưa hai hàm răng chạy tội:
_ Dạ, chỉ có mấy lũ bò tót hung hăng, thiếu hiểu biết mới húc bừa như thế. Lần này trở về con sẽ dạy lại chúng nó.
_ Hãy dạy thêm bọn chúng: lũ vượn cổ biết miếng thịt nào nên ăn, miếng thịt nào không nên ăn, như vậy là chúng đã có trí tuệ một bước. Chúng còn biết ăn đúng thời hợp lý, không ăn phi thời, đó là đã biết kềm thúc bản năng. Không có trí tuệ, không biết làm chủ bản năng, dù các ngươi có ăn chay đến mòn cả răng, văng cả lưỡi cũng không được làm người. Hiểu chưa! Mà có được làm người cũng phải thối lui đọa xứ vì tà kiến. Hiểu không!
Nghe tiếng quát cuối cùng của Ngọc Hoàng, Bò Vàng giật bắn cả người, hai mắt trợn tròn tỉnh giấc mơ say. Ừ nhỉ, bấy lâu nay nó chỉ biết cắm đầu cắm cổ ăn. Đứng cũng ăn, nằm cũng ăn, ngoài đồng cũng nhai, trong chuồng cũng nuốt; sáng, trưa, chiều, tối, bất kể giờ giấc, vô tư vô niệm. Hóa ra, bấy lâu nay nó chỉ chạy theo bản năng để sống chứ chẳng tu, chẳng chứng gì cả. Thói thường ở đời cứ thấy ai ăn uống rau cỏ kham khổ một chút liền cho rằng kẻ ấy có tu, có hạnh. Thực ra đâu có đơn giản như vậy. Nói nào ngay, thật xấu hổ, vì cả đám trâu, lừa, dê, ngựa chúng cũng ăn chay trường suốt đời như nó, nhưng đứa nào đứa nấy cứ hễ gặp nhau là lồng cả lên rồi đẻ sồn sồn chứ có bớt được đâu.
Thôi chết rồi! Vô minh là tàn cả một đời. Ái dục là tiêu luôn nhiều kiếp. Mà khốn thay, những sợi dây oan nghiệt này đâu phải đơn giản chỉ có chuyện ăn chay hay ăn mặn là chặt đứt được. Vậy mà từ hồi nào đến giờ nó vẫn không hiểu ra. Đã thế, không ít lần nó cứ dựa vào đây để lên giọng dạy đời, chửi toang thiên hạ. Chẳng trách chi lũ vượn cổ cứ gọi nó là thứ chỉ có “trí tuệ ngang tầm bao tử”.
Mới nghĩ đến đấy, Bò Vàng đã phải ngỡ ngàng bẽ bàng thảng thốt. Trên cái đầu bóng láng trụi lủi của nó, mồ hôi toát ra tuôn xuống như mưa. Không thể nào ngờ được cơ sự lại như vậy, Bò Vàng đứng sững như trời trồng khóc than thảm thiết.
Đợi cho Bò Vàng nguôi cơn thống hối, Thượng Đế liền an ủi:
_ Thôi, đừng tức mình nữa, thà trễ còn hơn không. Giờ đây ngươi đã biết như vậy rồi, thì hãy ráng chuyển hóa cho hợp với đạo trời, thuận theo nhân thế. Không bao lâu ngươi cũng sẽ được tiến hóa làm người mà thôi. À, để thưởng công ngươi bấy lâu cũng biết cố công tu tập thiền định, nay Ta ban cho ngươi có tới hai nhục kế để làm báu vật gia truyền, tha hồ khoe khoang với hàng xóm láng giềng.
Bò Vàng mừng vui tỉnh hẳn cả người thôi không khóc lóc, vội vàng sụp xuống lạy tạ Ngọc Hoàng rồi từ giã lui ra. Từ đó, gặp bất kỳ ai, Bò Vàng cũng cúi đầu, dụi tới dụi lui để khoe hai món quà Thượng Đế đã ban tặng để ghi công thiền định của nó. Riết rồi hai nhục kế phải cong lại, cứng ra và nhọn hoắt. Người đời sau không biết đến sự tích này nên mới gọi nó là hai cái sừng (2)
Nam Tào
___________________
Ghi chú:

(1) Nhục kế: khối thịt u trên đỉnh đầu, nhiều người tin rằng do công phu thiền định mà có.

(2)  Nếu các tín đồ Đại giáo thừa nào bấy lâu nay vì ăn chay nên tỏ ra khinh thường, phỉ báng những người ăn Tam tịnh nhục, đọc xong câu chuyện trên mà cảm thấy bị đụng chạm, đó là do các vị này mới chỉ bắt chước Đại thừa về phần miệng lưỡi, chứ chưa đủ trí tuệ để thấu hiểu giáo lý cao siêu của Đại thừa.
Thật vậy! Những vị này đã:
- Không thấu lẽ “chúng sanh đồng Phật tánh” trong kinh Pháp hoa. Theo đó, chúng sanh trong ba cõi sáu loài, cho dù là bò, người hay ma quỷ cũng đều bình đẳng, đồng thể tánh chơn như bổn thị. Đã dám chấp nhận chúng sanh đồng bổn tánh, còn chấp trước phân biệt “ta - bò” làm gì?
- Không biết noi theo gương Bồ-tát Phổ hiền trong kinh Hoa Nghiêm. Chính ngài đã phát đại nguyện thứ chín thế này: “…cho đến tất cả tám bộ thiên long, nhân loại và loài khác, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, có hình sắc, không hình sắc, có tư tưởng, không tư tưởng, không phải có tư tưởng, không phải không tư tưởng; tất cả chủng loại như vậy, đối với họ tôi đều tùy thuận cả: tôi phụng sự đủ cách, cung dưỡng đủ cách, kính như kính cha mẹ, thờ như thờ sư trưởng, thờ La hán cho đến như thờ Như lai, đồng đẳng không có gì khác cả.” (Phẩm “Hạnh nguyện Phổ hiền”, bản dịch của HT Thích Trí Quang). Rõ ràng những người Bà-la-môn ở Ấn Độ ngày nay vẫn còn biết vâng lời Bồ-tát Phổ hiền, thờ bò y như vậy. Chẳng lẽ các đệ tử Đại thừa lại thua kém họ?
- Không ngộ lý kinh Kim Cang, còn cố chấp phân biệt, không biết vô phân biệt “ta, người, chúng sanh, thọ giả”. Huệ Năng ngộ được lý này, đến thiện – ác ngài còn không phân biệt huống hồ “bò và ta”. Hãy nương theo trí tuệ Lục Tổ để nhận thức cái bản lai diện mục của ta, ngài và các chúng sanh khác như bò, heo, ma, quỷ… đều như nhau cả.
- Không biết noi gương tổ sư Lâm Tế, vì chính vị thiền sư này đã dám vô phân biệt đến cả Bụt và cục… khô.
- Không biết liễu ngộ ý chỉ của thiền sư Triệu Châu khi ngài không muốn phân biệt rạch ròi giữa “Bụt” và “cầy”. Theo đây, nếu ai đó vô phân biệt các ngài với các chúng sanh khác, với các cục… ướt khác, chắc hẳn các ngài vẫn tự tại vô ngại, thỏng tay vào chợ, cười khì một tiếng là xong. Các Tổ đã nêu gương vô phân biệt cạn tàu ráo máng đến như vậy, những ai tôn thờ các ngài còn bày đặt phân biệt chấp trước “người – bò” làm gì cho khổ!
- Không nhập vào được tòa "Đại lâu các Trang Nghiêm tạng" (Vairochana Vyùha Alankara-garbha) của kinh Hoa Nghiêm: "Đại lâu các này là trú xứ của những ai đã hiểu ý nghĩa Không, Vô tướng và Vô nguyện, của những ai đã hiểu rằng hết thảy các pháp là vô phân biệt, rằng pháp giới vốn là vô sai biệt, rằng chúng sanh giới vốn là bất khả đắc, rằng hết thảy các pháp vốn là vô sinh. Đây là trú xứ, nơi thường thích ở đối với những ai biết rằng hết thảy các pháp đều không tự tánh, những ai không phân biệt pháp theo bất cứ loại tướng nào...” (Theo “Phật Học Khái Luận”, Chương II, Phần IV. Hoa Nghiêm và Duyên Khởi, HT Thích Chơn Thiện. Nguồn: Thiền luận, D.T. Suzuki, cuốn Hạ, Tuệ Sỹ dịch, tr.173).
Kinh đại thừa đã dạy rành rành “hết thảy các pháp là vô phân biệt”, “pháp giới vốn là vô sai biệt”, “không phân biệt pháp theo bất cứ loại tướng nào”; vậy sao đệ tử Đại thừa còn cố chấp phân biệt tướng bò - tướng người, pháp chay - pháp mặn, giới rau - giới thịt làm chi cho mệt?
- Không noi theo hạnh nguyện của Bụt A Di Đà. Chính ngài đã phát đại nguyện: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh, chí tâm tín mộ, muốn sanh về cõi nước tôi, nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, thời tôi không ở ngôi Chánh giác; trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chánh pháp” (nguyện thứ 18). Theo đây, dù những kẻ diệt chủng, loạn luân dâm ác, cướp của giết người... tội lớn như thế còn được ngài A Di Đà “vô phân biệt” tiếp rước. Thử hỏi những kẻ không phạm tội ngũ nghịch, không huỷ báng Chánh Pháp, chỉ có tội nghe theo Kinh - Luật nguyên thuỷ ăn “Tam tịnh nhục”, như thế có gì là quá đáng mà những vị “chấp chay” lại lớn tiếng mạt sát họ?
- Không hiểu được ý nghĩa thâm sâu (sâu đến tận cùng thế giới) của chương thứ 11, “Kinh 42 chương” do các tổ sư gốc Bà-la-môn truyền trao: “Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn”. Rõ ràng các trưởng lão đại thừa nhờ ăn chay nên đã đạt được “vô niệm, vô trụ” đến tận cùng, bởi thế các ngài mới vô tư truyền dạy nhau cuốn kinh này qua hàng bao thế hệ. Chẳng lẽ giờ đây con cháu của các ngài lại bày đặt có niệm, có trụ, có tu, có chứng để phân biệt ta – bò, chay – mặn?
- Không thực hành theo luận Bửu Vương Tam Muội: “Oan ức không cần biện bạch”. Dù mình bị người khác nghĩ sai, oan uổng đến đâu cũng chẳng cần phải lên tiếng thanh minh biện hộ làm gì cho trái với luận Tam Muội Bửu Vương.
Tóm lại chỉ có im lặng là vàng, là thấu triệt “triết lý tam vô” - có mắt như mù, có tai như điếc, có miệng như câm. Các ngài Bắc tông đã biết lớn tiếng dạy người khác như thế, thời cũng phải dám thực hành theo, có vậy mới xứng danh dòng giống Đại thừa!
Cho nên, nếu những ai đã tôn thờ các kinh - luận trên, nhưng lại không chấp hành các lý lẽ cao siêu của nó, vẫn còn muốn cố tâm tranh luận phân bua biện bạch phải trái, đúng sai theo kiểu nhị thừa, rõ ràng đây là điều mâu thuẫn trái ngang cùng cực.
Đã không có chút lý trí để nhận thức cái móc câu hai lưỡi quá rõ ràng từ các luận sư gốc Bà-la-môn trao tặng, dù những người này có viết đến tám vạn bốn ngàn cuốn sách để biện hộ thì cũng hoàn toàn vô giá trị. Gặp các “nhục kế” đích thực này, những bậc thiện trí thức chỉ còn có nước co chân, ngồi nói chuyện với đầu gối sướng hơn!
Thiên Đình, ngày 32 tháng 13 năm hồi nẳm
Nam Tào chấp bút và ghi chú
Tái bút: Tất cả những gì đã viết ở trên cần phải được các tín đồ Đại thừa giáo ghi nhận theo tinh thần “vô phân biệt” siêu việt, nhờ vậy mới không thấy bức xúc, mới vô quái ngại, mới viễn ly điên đảo mộng tưởng đạt đến cứu cánh Bát Nhã.
Với những ai không chấp nhận triết lý Đại thừa của các luận sư gốc Bà-la-môn, hoặc ăn chay vì lý do riêng không phỉ báng ăn mặn, những người cầm bút chân chính cần phải tách biệt họ một cách phân minh, không được dùng bất cứ hình thức so sánh áp đặt nào, vì như vậy là xúc phạm họ một cách vô lý. Hiểu và thực thi điều này mới chính là bậc hiền nhân quân tử, thấu lẽ đạo, trọng lý đời, biết người, biết ta.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

BỤT A HÀM CŨNG TẦM THƯỜNG VÀ VÔ LÝ

Thật vậy, ai không tin hãy đọc kỹ hai bài kinh tương đương dưới đây trong PALI và A HÀM sẽ rõ

SO SÁNH 
Chánh Kinh "Vekhanassa" (số 80, Trung Bộ Pali) và & 
Tà kinh "Bệ-Ma-Na-Tu" (số 209, Trung A Hàm)
-----------------

Chánh kinh Pāli: “Khi được nghe nói vậy, du sĩ Vekhanassa, phẫn nộ và bất mãn, mắng nhiếc cả Thế Tôn, miệt thị cả Thế Tôn và nói: -- Sa-môn Gotama sẽ bị đọa lạc.
Và du sĩ Vekhanassa thưa Thế Tôn: -- Nhưng như vậy, ở đây, có một số Sa-môn, Bà-la-môn không biết về quá khứ, không thấy về tương lai, nhưng các vị ấy tự cho: "Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, từ nay không trở lại đời sống này nữa". Lời nói như vậy của họ tự chứng tỏ là đáng cười, tự chứng tỏ là nói suông, tự chứng tỏ là trống không, tự chứng tỏ là hư vọng.
-- Này Kaccana, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không biết về quá khứ, không thấy được tương lai, nhưng tự cho là ta biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui đời này nữa", lời phủ nhận chỉ trích như vậy về họ là hợp pháp.
Nhưng này Kaccana, hãy bỏ qua quá khứ, hãy bỏ qua tương lai. Hãy đến, người có trí không gian trá, không xảo quyệt, chơn trực và nói như sau: "Ta giảng dạy, ta thuyết pháp". Nếu thực hành theo điều đã dạy, thời không bao lâu người ấy tự biết mình, tự thấy mình: "Như vậy thật sự là đã giải thoát khỏi sự ràng buộc chính, tức là sự ràng buộc của vô minh".
Ví như, này Kaccana, một đứa trẻ, bé nhỏ, yếu ớt, nằm ngửa, bị trói buộc nơi cổ với năm trói buộc, rất có thể làm bằng dây. Sau khi nó lớn lên, sau khi các căn nó thuần thục, nó được giải thoát khỏi các trói buộc ấy, khi không còn trói buộc nữa, nó biết: "Ta được giải thoát".
Cũng vậy, này Kaccana, hãy đến người có trí không gian trá, không xảo quyệt, chơn trực và nói như sau: "Ta giảng dạy, ta thuyết pháp". Nếu thực hành theo điều đã dạy, thời không bao lâu người ấy tự biết mình, tự thấy mình: "Như vậy thật sự là đã giải thoát khỏi sự ràng buộc chánh, tức là sự ràng buộc của vô minh".”
Tà kinh A Hàm: “Thế Tôn biết rồi bảo rằng: “Này Ca-chiên, nếu có Sa-môn, Phạm chí này không biết biên tế đời trước, không biết biên tế đời sau, không biết sanh tử vô cùng mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’; thì người đó phải nói như vầy, ‘Hãy gác qua biên tế đời trước, hãy gác qua biên tế đời sau’.
Nhưng này Ca-chiên, Ta cũng nói như vầy, ‘Hãy gác qua biên tế đời trước, hãy gác qua biên tế đời sau’. Giả sử không nhớ một đời. Khi đệ tử Tỳ-kheo của Ta đến, không nịnh hót, không lừa gạt, mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu cứ theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì nhất định biết được Chánh pháp.
“Này Ca-chiên, cũng như một đứa trẻ nhỏ thân còn yếu, nằm ngửa. Cha mẹ nó buộc tay chân nó lại. Đứa bé đó sau lớn lên, các căn thành tựu, cha mẹ lại cởi trói tay chân cho nó ra. Nó chỉ nhớ khi được cởi trói, chớ không nhớ khi bị trói.”
Phân tích phản biện: Theo Chánh kinh Pāli, du sĩ Vekhanassa chê bai các Sa-môn, Bà-la-môn không biết về quá khứ - tương lai nhưng lại cho rằng mình đã chứng tri. Mặc dù trước đó Vekhanassa xúc phạm Phật, nhưng Ngài vẫn ôn tồn chỉ dạy cho ông ta.
Ngài dạy Vekhanassa hãy gác qua chuyện quá khứ - tương lai, hãy tìm đến người trí nào chỉ dạy mà khi thực hành theo đó mình tự biết mình, tự biết mình giải thoát đến đâu trước sự trói buộc bởi năm dục trưởng dưỡng. Giống như hình ảnh đứa trẻ yếu ớt bị cột trói bởi năm sợi dây, sau này “đứa bé” biết tự cởi trói và tự mình thấy mình được giải thoát.
Ngược lại, trong A Hàm câu nói của Bụt có nghĩa là: những Sa-môn, Phạm chí không hiểu biết nói như thế nào thì Bụt A Hàm cũng nói như vậy (?) Rõ ràng là Bụt A Hàm cũng giống như các Sa-môn, Phạm chí không hiểu biết gì cả!!!
Bụt A Hàm không biết thật, cho nên ngài mới dùng ví dụ cha mẹ cột tay chân đứa bé còn yếu, nằm ngửa (?). Ví dụ này vừa rất vô lý lại thật thô thiển. Sau đó Bụt A Hàm còn “khiến” cha mẹ cởi trói cho đứa bé khi nó lớn lên (?) điều này có nghĩa ngài đã xoá nhoà ý nghĩa tự chứng tự tri của Phật giáo. Bụt A Hàm là ai lại ngớ ngẩn và hồ đồ quá thể?
Lại nữa, vị Tỳ-kheo đệ tử tìm đến nghe Phật dạy rồi sau đó “được Chánh pháp”, giống như đứa bé lúc đầu bị (Bụt cha) trói nhưng không biết không nhớ gì cả, sau đó mới nhớ ra mình được (Bụt cha) cởi trói cứu rỗi! Vô lý!!!
Xin nói thêm, trong Chánh Kinh NIKAYA PALI, Đức Phật Thích Ca không bao giời tầm thường và có những ví dụ phi lý, hồ đồ như thế.
Trí tuệ của những vị thọ trì và giảng dạy A Hàm đi đâu cả rồi lại tin và in các tà kinh như thế này?
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU HỌC PHẬT

KINH CẦU SIÊU CHO NGƯỜI SỐNG

Kinh Bị Bệnh (S.v,408)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng họ Thích, tại Kapilavatthu, khu vườn các cây bàng.

2) Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành.

3) Họ Thích Mahānāma được nghe: "Nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: "Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành"". Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con được nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: "Sau khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi du hành". Chúng con chưa được tự thân nghe từ Thế Tôn, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn điều này. Bạch Thế Tôn, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được một cư sĩ có trí giáo giới như thế nào?

4) -- Này Mahānāma, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được an ủi với bốn pháp an ủi như sau (assāsaniya dhamma):

5) Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với Đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn"

6) Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tin bất động của Tôn giả đối với Pháp: "Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". 

7) Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tin bất động của Tôn giả đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". 

8) Tôn giả hãy yên tâm, với thành tựu các Giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

9) Một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, này Mahānāma, phải được một cư sĩ có trí giáo giới với bốn pháp an ủi này. Cần phải nói như vậy.

10) Tôn giả ấy có lòng thương nhớ cha mẹ. Nếu vị ấy nói: "Tôi còn có lòng thương nhớ cha mẹ", thời nên nói với vị ấy như sau: "Thưa Tôn giả, Tôn giả thế nào cũng phải chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với cha mẹ của Tôn giả".

11) Nếu vị ấy nói như sau: "Lòng thương nhớ của tôi đối với cha mẹ, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận", vị ấy cần phải được nói như sau: "Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con hay không?" Nếu vị ấy nói: "Tôi có lòng thương nhớ vợ con", thời vị ấy cần phải được nói như sau: "Tôn giả thế nào cũng chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với vợ con của Tôn giả".

12) Nếu vị ấy nói như sau: "Lòng thương nhớ của tôi đối với vợ con, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận", vị ấy cần phải được nói như sau: "Tôn giả có lòng thương tiếc năm dục công đức của loài Người không?" Nếu vị ấy nói như sau: "Tôi có lòng thương nhớ năm dục công đức của loài Người". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Các Thiên dục đối với nhân dục, còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn. Vậy tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi các nhân dục, và hướng tâm đến Tứ Đại Thiên Vương Thiên".

13) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ nhân dục và hướng đến Tứ Đại Thiên Vương Thiên", vị ấy cần được nói như sau: "Chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn Tứ Đại Thiên Vương Thiên. Tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Tứ Đại Thiên Vương Thiên và hướng tâm đến chư Thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba".

14-19) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ Tứ Đại Thiên Vương Thiên và hướng đến chư Thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba", vị ấy cần được nói như sau: "Chư Thiên Yamā, chư Thiên Tusitā, chư Thiên Hóa Lạc Thiên, chư Thiên Tha Hóa Tự Tại Thiên còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba".

20) ... "Chư Thiên ở Phạm Thế còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở Tha Hóa Tự Tại Thiên. Tốt hơn Tôn giả từ bỏ tâm khỏi chư Thiên Tha Hóa Tự Tại Thiên và hướng tâm đến Phạm Thế, Phạm Thiên Giới".

21) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ chư Thiên Tha Hóa Tự Tại Thiên và hướng tâm về chư Thiên ở Phạm Thế", thời vị ấy cần phải được nói như sau: "Này Tôn giả, Phạm Thiên giới là vô thường, không thường hằng, bị thân kiến giới hạn. Tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Phạm Thế và hướng tâm đến đoạn diệt thân kiến (Sakkāya)".

22) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ Phạm thế và hướng đến đoạn diệt thân kiến"; vị cư sĩ nói như vậy, này Mahānāma, và với Tỷ-kheo có tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, Ta nói rằng không có gì sai biệt, tức là về phương diện giải thoát.
(Theo bản dịch của HT Thích Minh Châu)

GIỚI BỒ TÁT THÂM HIỂM


Nguyên văn Bồ-tát giới khinh thứ 38 và chú thích số 62 trong
“38.-GIỚI TRÁI THỨ TỰ TÔN TY 62
Nếu Phật tử, phải theo thứ tự đúng pháp mà ngồi: người thọ giới trước thời ngồi trước, người thọ giới sau thời ngồi sau. Không luận già, trẻ, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni. Người sang như Quốc Vương, Hoàng tử, nhẫn đến kẻ hèn như huỳnh môn, tôi tớ v.v... tất cả đều theo thứ tự mà ngồi: người thọ giới trưóc thời ngồi trước, người thọ giới sau thời ngồi sau. Không được như hàng ngoại đạo, si mê, hoặc già, hoặc trẻ, ngồi trước sau lộn xộn không có thứ tự, không khác cách ngồi của bọn binh nô. Trong Phật pháp của ta, hễ người thọ giới trước thời ngồi trước, còn người thọ giới sau thời ngồi sau. Nếu Phật tử không theo thứ tự đúng pháp mà ngồi, thời phạm “khinh cấu tội”.”
Chú thích 62 (trang 36 trong sách Bồ-tát giới):  “Trong Phật pháp thời Thiên Tửọng đức hạnh, nên y cứ nơi ngày thọ giới trước sau mà phân ngôi thứ, chớ không theo tuổi đời, cũng không theo tước vị. Nếu khi tụng giới có đủ hạng Phật tử, thời nên phân riêng từng đoàn thể mà ngồi; người xuất gia ngồi theo nhóm xuất gia; người tại gia ngồi theo nhóm tại gia. Trong hàng tại gia nếu có ngại, thời nên chia ra nhiều nhóm có quan tước, cùng nhóm bình dân. Rồi từ mỗi nhóm cứ y theo giới đứcmà phân ngôi thứ. 
Phân tích phản biện
Bồ-tát giới cũng như các tam tạng ngụy tạo khác, thường có lối mạt sát khinh chê hồ đồ người ngoại đạo và cả Phật giáo Nguyên Thuỷ.
Ví như kiểu phán xằng ‘Không được như hàng ngoại đạo, si mê, hoặc già, hoặc trẻ, ngồi trước sau lộn xộn không có thứ tự, không khác cách ngồi của bọn binh nô’. Đâu phải tất cả các ngoại đạo đều không biết thứ tự trên dưới, trước sau, Bồ-tát giới vơ đũa cả nắm kiểu này, chửi bừa họ là si mê, binh nô; chẳng khác nào kích động ngoại đạo tức giận triệt tiêu Phật giáo.
Những tổ sư gián điệp vẽ xong điều trên rồi đem sàm tấu lên vua quan kì thị Phật giáo, thử hỏi các Tăng Ni có khốn khổ thêm không? Trong lịch sử, Phật giáo cũng đã có thời kỳ bị vua quan, ngoại đạo tận diệt tàn nhẫn. Trong đó không thể không tính đến nguyên nhân Đại Thừa giáo bị lên án là hống hách, chửi bừa người khác si mê, ngu muội, binh nô.
Riêng chú thích 62 cũng hồ đồ không kém. Vấn đề đức hạnh và tuổi hạ là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau, không phải cứ xuất gia trước là có đức hạnh tốt hơn người xuất gia sau.
Trong kinh Tăng Chi tập 3, Phẩm Chư Thiên, trang 329; Đức Phật đã dạy cho ngài Xá Lợi Phất: Này Sārīputta, trong Pháp, và Luật này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm”
Cụ thể nếu phân tích theo mối quan hệ giới hạnh và tuổi hạ, có bốn hạng người:
- Giới hạnh cao, tuổi hạ cao.
- Giới hạnh kém, tuổi hạ kém.
- Giới hạnh cao, tuổi hạ kém.
- Giới hạnh kém, tuổi hạ cao.
Theo đây, vị trưởng lão tuổi hạ cao, giới hạnh thanh tịnh là đáng quý nhất. Một tu sĩ trẻ nhưng giới hạnh nghiêm túc cũng đáng trân trọng.
Còn kẻ có tuổi hạ cao, thọ giới trước nhưng phá giới phá hạnh là kẻ gây nhiều tội nhất. Một ông quan tham nhũng, trụy lạc có thời gian tại vị càng lâu càng gây nhiều tội ác. Cũng vậy, một Hòa thượng, A-xà-lê gian trá tà hạnh, tuổi hạ càng cao càng chất chồng tội lỗi, càng gây nhiều tai tiếng cho giáo hội, càng phá mất niềm tin nơi nhiều người.
Nói như vậy để thấy rõ đức hạnh và tuổi hạ không phải đơn thuần là một. Bồ-tát giới và kẻ vẽ ra chú thích ‘chỉ dại’ thiển cận kiểu trên chỉ làm lợi cho những kẻ thích khai gian tuổi hạ và kích thích mọi người hơn thua với nhau về thứ tự, tước vị. Các tu sĩ mải hơn thua nhau tuổi hạ, vị trưởng lão dễ sanh ngã mạn, còn kẻ mới tu chỉ nhắm theo thầy tuổi hạ cao mà quên đi vấn đề đạo hạnh, đây là sự nguy hại cho cá nhân lẫn cho Tăng đoàn.
Càng suy xét kỹ, càng thấy Bồ-tát giới thâm hiểm gian tà.
TẬP SAN LUẬT HỌC